on 18 tháng 3, 2013

NHIẾP CHÍNH VƯƠNG, THUỘC HẠ SỢ !!!

Cẩm Ảnh | Khuyên








CHƯƠNG 7 + 8: BÁI KIẾN NHIẾP CHÍNH VƯƠNG


Hà Thanh Quân và Liễu Thanh Phi gió bụi đường xa trở về nơi một năm trước đã ra đi, kinh thành An Lạc. Vẫn phồn hoa, vẫn náo nhiệt, vẫn thân quen và vẫn sừng sững ngạo nghễ như trước.

Liễu Thanh Phi trực tiếp dẫn cô vào cung yết kiến Nhiếp Chính Vương.

Trong lúc đứng chờ ngoài cửa thư phòng, Hà Thanh Quân nhanh chóng điểm lại trong đầu các sự tích liên quan đến Nhiếp Chính Vương.

Nhiếp Chính Vương Lệnh Hồ Bác, hai mươi sáu tuổi, tên tuổi lẫy lừng như sấm bên tai, là vị Lục vương gia thích hành hiệp giang hồ. Tiên hoàng trước khi băng hà đột nhiên tuyên cáo thiên hạ, muốn truyền ngôi cho Lục vương gia. Cũng không biết vì nguyên nhân gì, Lục vương gia sống chết không chịu nhận, tiên đế không còn cách nào khác, bèn truyền ngôi cho cậu con trai lớn mười tuổi, phong Lục vương gia là Nhiếp Chính Vương.

Nửa năm sau khi tiên đế băng hà, phàm là phụ nữ đều bị hắn bắt ra khỏi cung.

Thân mẫu của tiểu hoàng đế, Thái hậu nương nương, vốn là ở trong cung chăm sóc con nhỏ, lại bị Nhiếp Chính Vương lấy danh nghĩa tị hiềm đưa sang ở nhà của anh trai, ăn uống tiện nghi giống y trong cung, chia cách mẹ con người ta.

Nghĩ đến đây, Hà Thanh Quân bĩu môi, Nhiếp Chính Vương đem toàn bộ nữ nhân của tiên hoàng đuổi đi không còn một mống, bản thân thì chuyển vào hoàng cung. Lạ lùng ở chỗ, dù là lúc trước hay sau này khi đã vào cung, không hề thu nạp phi thiếp, nghe nói ngay cả nữ nhân thị tẩm cũng không có... Ôi dào, nam nhân thị tẩm cũng có đâu.

Bên ngoài lưu truyền câu nói, Nhiếp Chính Vương có lẽ bị đoạn tụ (1), thế nhưng rõ ràng Nhiếp Chính Vương rất giữ lễ với quần thần, không giống với đoạn tụ.

Lại có lời đồn Nhiếp Chính Vương không thể giao hoan (2). Nhiếp Chính Vương nghe xong chỉ mỉm cười, không để ý, tin đồn cũng dần dần lắng xuống.

Ngược lại, các thiên kim quận chúa nhà vương tôn quý tộc trong Nam Uyển lại vô cùng sùng bái ngưỡng mộ hắn, luôn tin tưởng hắn biết cách giữ mình trong sạch.

Cô chép miệng, con cháu hoàng gia mà biết giữ mình mới là lạ đấy! Lúc họ mười ba, mười bốn tuổi đã có thị nữ hầu ngủ, huống chi là vị vương gia hai mươi sáu tuổi này, bên người lại không có phụ nữ. Cô thà tin là hắn mắc bệnh kín hơn!

Vừa nghĩ đến đó, cô đã che miệng cười thật nham nhở.

Liễu Thanh Phi vội vàng bước ra, nói: “Nhiếp Chính Vương bảo muội vào kìa.”

Hà Thanh Quân gật đầu ừ một tiếng, thấy nghĩa huynh không đi theo, mà đứng chờ ngoài cửa, bàn tay sờ sáo ngọc, khẽ cười, Nhiếp Chính Vương muốn thị uy đây mà!

Thu liễm khí tức, chỉnh lại y phục, cúi đầu đi vào.

Khóe mắt liếc thấy một chiếc mãng bào (3)  màu vàng đang ngồi ngay ngắn nơi bàn đọc sách, khí thế bức người, bộ dáng không rõ lắm.

Cô vén áo thi lễ: “Dân nữ Hà Thanh Quân khấu kiến Nhiếp Chính Vương thiên tuế!”

Nhiếp Chính Vương không lên tiếng, Hà Thanh Quân vẫn cứ thế duy trì tư thế quỳ gối, cảm giác ánh mắt sắc bén của Nhiếp Chính Vương đảo qua đảo lại trên người, bất giác ớn lạnh cả xương sống.

Hồi lâu, mới nghe thấy người ở trên cao nói vọng xuống: “Đứng lên đi!” Giọng nói lãnh đạm, nhưng vô cùng mạnh mẽ trầm ổn, không giận mà uy.

Cô, Hà Thanh Quân hai mươi tuổi, xưa nay không sợ trời không sợ đất, giờ phút này đột nhiên sinh ra một cảm giác sợ hãi khó hiểu.

“Ngẩng đầu lên!”

Hà Thanh Quân mắng thầm trong bụng, lời gì đâu mà... khụ khụ, may là cô biết bản thân mình đến đây là để bảo vệ Nhiếp Chính Vương, bằng không chắc chắn sẽ cho là Nhiếp Chính Vương đại nhân đang tuyển phi, muốn nhìn dung mạo...

Ngẩng đầu lên – cảnh diễn kinh điển của các cô gái.

Cô chậm rãi ngẩng đầu, môi mỉm cười, muốn tạo ấn tượng tốt nhất với ông chủ.

Khi ánh mắt chạm mặt Nhiếp Chính Vương, có chút ngớ ra, trái tim đập đầy phấn khích: Đây chính là Nhiếp Chính Vương?! Có phải là người sống không vậy? Hề hề, kinh thành quả là nơi sản sinh ra các mỹ nhân, ngay cả Nhiếp Chính Vương lãnh khốc quyền lực cao cao tại thượng cũng đẹp đến nỗi người và thần cùng căm phẫn như vậy!

Chỉ thấy chàng trai đang ngồi ở đó, gương mặt tuấn tú tuy rằng không thể so với kinh thành đệ nhất mỹ nam Bạch Dật Dương, nhưng lại hơn ở khí chất, mắt sao mày kiếm, mũi cao môi mỏng, da mặt mướt mát không tỳ vết, so với con gái chỉ hơn chứ không kém, lại có tướng giàu sang, trầm ổn thâm sâu, lại có loại phóng túng không kiềm chế được, cả người tản ra khí tức vừa mâu thuẫn vừa hòa hợp.

Đàn ông thế này là hấp dẫn con gái nhất, may là cô đã là phụ nữ từng trải, đáy lòng không khỏi run lên.

A Di Đà Phật, sắc tức thị không, không tức thị sắc!

Lệnh Hồ Bác cũng ngẩn người ra.

Cô gái này, hắn cũng từng biết đến tên, Một năm trước, hãy còn là vợ của Đô úy Bạch Dật Dương. Nghe nói bởi vì thành thân hai năm không sinh được mụn con nào, Bạch Đô úy phụng lệnh mẫu thân dùng lễ tiết khi cưới chính thê để cưới con gái của Kỷ thị lang. Cô gái này trước đêm hôn lễ tự nguyện xin ly hôn, bởi vì Bạch Đô úy là vị quan đầu tiên trong triều ly dị vợ, cho nên chuyện này ầm ĩ khắp kinh thành một thời gian dài.

Hắn vô cùng bội phục dũng khí không sống cảnh chồng chung của cô, có điều trong tiềm thức vẫn cảm thấy người bị chồng bỏ đáng lý nên sầu đau mới phải, đằng này lại thấy cô mặt mày tươi tắn, khóe miệng tươi cười, đôi mắt lấp lánh ánh lên tia nhìn nghịch ngợm, có thấy đau khổ tiều tụy gì đâu.

“Hà Thanh Quân... là Hà Thanh Quân của Bạch gia à?” Giọng bình thường, nhưng nhàn nhạt và mang ý thăm dò, khiến lòng người thoáng run.

Hà Thanh Quân đứng hình. Gã Nhiếp Chính Vương này thật đáng ghét, vừa mở miệng đã chặn họng người ta rồi.

Bèn mỉm cười hành lễ: “Nhiếp Chính Vương bận rộn chính sự, không ngờ lại nhớ rõ Bạch gia từng có một Hà Thanh Quân. Thật đúng là may mắn của Hà Thanh Quân, chỉ là, hị hị, thật ngại quá, người ở trước mặt Nhiếp Chính Vương đây, là Hà Thanh Quân của Hà gia, Hà Thanh Quân của Nhạc Sơn.”

Trong con ngươi thâm thúy u tối của Lệnh Hồ Bác tựa hồ toát lên ý cười. Hắn nhìn cô nói: “Cũng phải! Nghe nói Hà Thanh Quân ở Bạch gia hai năm không sinh hạ nhi tử, lại còn đố kị với bình thê...”

Hà Thanh Quân âm thầm khinh bỉ. Gã Nhiếp Chính Vương này là cố tình muốn gây khó dễ cho cô mà! Trong bụng lầm bầm chửi rủa hắn một trăm lần, trên mặt vẫn cười tươi như cũ: “Sinh con hay không, tự bản thân cô ấy biết, không cần giải thích với người ngoài. Còn đố kị ư, aiii, thế nhân chỉ biết nói người nữ ấy đố kị, lại không thấy Bạch gia công tử bội tín. Mọi chuyện đều có nhân quả của nó, đúng sai thế nào, người ngoài làm sao biết được?”

Dừng lại một chút, rồi nói tiếp: “Nếu không hợp, sao không nhường cho người mới. Nhiếp Chính Vương muốn có hộ vệ tài giỏi, ừm, thật may là làm hộ vệ không cần sinh con, nếu không mang theo cơ thể nặng nề bay nhảy chiến đấu, thì không tiện đâu.” Lời này của cô pha chút dí dỏm.

Lệnh Hồ Bác: “...” Ý cười trong mắt tựa hồ càng đậm.

“Hà cô nương, cô nói mình có tài gì nào?”

Hà Thanh Quân nghe thấy hắn gọi mình là “Hà cô nương”, mỉm cười nhẹ nhõm. Điều này thể hiện hắn ít nhất đã công nhận Hà Thanh Quân cô đây. Nghĩ lại Nhiếp Chính Vương chắc là cũng có băn khoăn của mình. Hoàng thất dùng người, xưa nay đều chú trọng chọn người gia thế trong sạch, trung thành kiên tâm, bây giờ để một ả đàn bà đã ly dị chồng làm hộ vệ thật là trường hợp trước nay chưa từng có, lỡ bị oán hận sâu nặng trong lòng làm hỏng đại sự, thì không phải tạ tội bằng cái chết là có thể giải quyết được.

“Dân nữ thô tục, chỉ thạo múa kiếm huy côn, am hiểu trận pháp.”

Trong mắt Lệnh Hồ Bác lóe lên một tia khó hiểu. “Còn gì nữa?”

Hà Thanh Quân cụp mắt tránh né, không muốn nói đến chuyện tìm mỏ.

Lệnh Hồ Bác cũng không ép, chuyển đề tài, “Có giỏi những chuyện con gái thường làm không?”

Hà Thanh Quân ngớ ra, cau mày nghĩ ngợi.

Lệnh Hồ Bác khá bất ngờ, không nhịn được lên tiếng nhắc nhở: “Ví như cầm kỳ thi họa, phẩm trà, ca múa, hay là thêu thùa may vá?”

Hà Thanh Quân lắc đầu liên tục.

“Nhiếp Chính Vương tuyển là tuyển hộ vệ cận thân, chứ không phải tuyển vợ đâu ha?”

Lệnh Hồ Bác đầu tiên là ngẩn ra, lập tức khôi phục như cũ, khóe mắt lấp lánh ý cười. “Đúng vậy, nhưng nếu thỉnh thoảng bổn vương xuất cung, bên cạnh là nữ hộ vệ, lại không thể làm một số chuyện của nha hoàn, khó tránh khỏi có chút tiếc nuối.”

Hà Thanh Quân ra vẻ như đã hiểu, trịnh trọng nói: “Có lẽ Nhiếp Chính Vương cần phụ nữ, chứ không phải hộ vệ đâu...” Dừng một chút, thốt lên đầy nghiêm túc: “Nhiếp Chính Vương, hãy cứ xem thuộc hạ là nam nhân vậy.”

Lệnh Hồ Bác khóe mắt giật giật. Thân ảnh cao dài chợt phóng lên cao, tay phải làm trảo, vươn về hướng cổ họng cô.




---------------





1.  Đoạn tụ: chỉ thích người cùng giới
2.  Giao hoan: làm chuyện nam nữ
3.  Mãng bào: Long bào là áo của vua thêu hình rồng; còn mãng bào là áo của hoàng tử, vương gia, thêu biểu tượng mãng xà hóa rồng, có chín rồng bốn móng. Xem hình.
on 7 tháng 3, 2013



Mi Lan Trì

Tác giả Lam Liên Hoa
Dịch Bướm Mùa Đông
Chỉnh Khuyên


*Đặc biệt cảm ơn chị Khuê Trần đã gỡ giúp em đoạn khó XD*






Chương 2: Biệt ly • Mộ Dung Lan


Đã qua giờ Tý, huyết sắc nồng đậm phản chiếu dưới ánh trăng bàng bạc.

Hôm nay là mồng Mười tháng Chín, là ngày chia tay của tôi và Mi.

Tôi muốn cùng em ngồi cạnh nhau trong vườn, tựa đầu ngắm ánh sáng xanh nhạt của đom đóm mờ xa. Hương hoa tử đằng thoang thoảng rơi trên vạt áo, có lúc lặng yên, có khi rào rạt.

Chúng tôi sẽ uống trà hoặc là rượu. Chúng tôi trò chuyện cùng nhau, hoặc có lẽ không nói gì cả. Em sẽ nài tôi thổi sáo, hoặc là tự mình hát lên.

Nụ cười của em trong trẻo tươi sáng, không hề vương nét sầu lụy bi thương.

Thế nhưng tôi lại không có mặt ở vườn hoang của chúng tôi, mà đang ở trên núi Lạc Mai cách xa mười dặm.

Máu chảy khắp người tôi, máu tràn hai tay tôi. Mũi kiếm còn loang máu sau lưng lạnh lẽo dị thường.

Nhân mã của Trì gia đã tập hợp đầy đủ, người chết người bị thương đều được đưa đi. Tổng quản Trì gia, Trì Lạc Ảnh, bước đến chỗ tôi, cung kính chắp tay mỉm cười: “Trì mỗ may mắn không làm nhục sứ mệnh, xin cáo từ.”

Tôi nhìn gương mặt ôn hòa của ông ta dưới ánh trăng, giết người vô số nhưng y phục không hề dính máu, cũng lặng lẽ vái chào.

Thủ hạ của tôi nặng nề lê bước thu dọn thi thể. Vũng máu loang lổ trên mặt đất phảng phất như có linh hồn, rên rỉ những tiếng oán than dưới chân bọn họ. Chỉ có những thi thể chảy cạn máu kia là không có âm thanh cũng không có hơi thở. Chúng nằm đó, bị kéo lê hoặc mang đi, cuối cùng là bị vứt xuống vực sâu vạn trượng trong tiếng gió hú thê lương.

Tôi nhìn thấy một thiếu niên nắm cánh tay trái của một thi thể để kéo đi, đột nhiên cánh tay đứt ra khỏi người. Thiếu niên nắm chặt lấy cánh tay đó ngồi phịch xuống đất, trong khoảnh khắc nó chưa kịp nhận biết chuyện gì đã xảy ra, thần thái mơ hồ. Sau đó, nó vứt cánh tay bầy nhầy máu thịt đó đi, bắt đầu nôn mửa và khóc.

Không ai để ý đến sự sụp đổ bất ngờ của thiếu niên đó, chỉ có tôi đi về phía nó, vì tôi nhớ ra cha nó, tiêu sư của Kim An tiêu cục, Trương Toàn. Ba năm trước, Trương Toàn đưa Trương Quảng Nghĩa đến Mộ Dung phủ, lúc rời đi thì gặp mặt tôi ở trước hiên, đại hán hào hùng đột nhiên rơi nước mắt, nhờ tôi chăm sóc cho con trai ông. Không lâu sau thì có tin truyền ra là ông đã chết trong một chuyến áp tiêu.

Tôi không rõ những năm tháng trước đây tôi có được tính là đã chăm sóc tốt cho Trương Quảng Nghĩa không, nhưng tôi cho rằng ít nhất trong giờ phút này tôi đã đặt tay lên vai nó, nói cho nó biết không phải lần giết người nào cũng đáng sợ như lần đầu.

Một đám mây đen lướt qua ánh trăng, trước mắt tôi đột nhiên tối sầm, bỗng một luồng sáng lóe lên trước mặt. Tôi đột nhiên hiểu rõ chuyện gì xảy ra, tôi giơ kiếm lên, chém xuống không hề do dự. Nhưng, đã muộn.

Một thanh đao cắm sâu vào ngực Trương Quảng Nghĩa, cánh tay cầm đao đã bị tôi chặt đứt, nhưng nó vẫn nắm chắc không buông, lủng lẳng ở chuôi đao.

Chủ nhân của cánh tay đó giờ thực sự trở thành một xác chết. Cánh tay trái của hắn bị người ta chặt, đứt lìa khỏi cơ thể khi Trương Quảng Nghĩa dùng sức nắm kéo. Cơn đau làm hắn tỉnh dậy, dùng toàn lực đâm kẻ thù đầu tiên hắn nhìn thấy. Sau đó, hắn mới thật sự chết đi, có lẽ là trước cả khi tôi chặt tay phải của hắn.

Thủ hạ của tôi tụ tập lại, loạn đao phân thây hắn.

Nhưng chúng tôi không cứu được Trương Quảng Nghĩa. Trên mặt nó còn vương nét bàng hoàng, ánh mắt đã dần thất tán.

Tôi ôm chặt lấy thiếu niên sắp chết, cảm thấy cơ thể của mình run rẩy dữ dội. Tôi dường như cảm thấy người bị trúng đao đó là tôi… ngay cả khi phải trả cái giá rất đắt, ngay cả khi tôi đã dùng hết khả năng có thể, tôi vẫn không cách nào bảo vệ được những người tôi muốn bảo vệ, thủ hạ của tôi, người nhà của tôi, còn có… Mi.

Đêm hôm đó, tôi trực tiếp đến nơi ở của Mi.

Cửa không khóa, em không có ở đó. Tôi biết em nhất định đang ở trong khu vườn của chúng tôi.

Quả nhiên em đang ngủ trong đình, cuộn tròn lại ngủ y hệt như đứa bé tôi gặp lần đầu tiên vào mười hai năm trước.

Tôi cởi áo ngoài khoác lên người em.

Trong khoảnh khắc tôi chợt thấy lơ đãng, phảng phất như mới ngày hôm qua, tôi đã hứa với người đàn ông đó, tôi sẽ chăm sóc cho Mi, em gái của tôi.

Nhưng, đó là mười hai năm trước.

Mười hai năm trước, em năm tuổi, còn tôi mười một.

Cũng vào mùa thu, buổi đêm, tôi lặng lẽ vào vườn, tuy rằng tôi được lệnh của cha phải chuyển ra khỏi đó, nhưng tôi vẫn không nỡ rời xa.

Đêm đó trăng thanh gió mát, cho nên tôi thấy rất rõ ràng một người đàn ông trẻ tuổi tiến vào khu vườn. Anh ta ẵm một cô bé cong người lại như đang ngủ say.

Tôi còn nhớ hình dáng của người đàn ông đó, bóng lưng dường như cũng vương vấn nỗi buồn, đến cái phất tay áo cũng ôn hòa.

Anh ta ôm đứa bé gái, chỉ lên những ngôi sao trên trời cho cô bé xem.

Đôi mắt của cô bé còn sáng hơn sao.

Tôi ngồi trong bụi cỏ im lặng nhìn bọn họ. Tôi nghe anh ta gạt bé gái, bảo là mẹ của bé biến thành sao trên trời. Bà sẽ luôn dõi theo Mi, bà hi vọng Mi sống vui vẻ.

Tôi biết anh ta đang gạt đứa bé tên là Mi ấy, tôi biết mẹ của Mi nhất định cũng mất sớm như mẹ của tôi. Cha tôi chưa bao giờ gạt tôi như vậy, cho nên tôi biết anh ta đang gạt đứa bé.

Tuy nhiên cô bé không hề biết.

“Nếu như mẹ muốn con sống vui vẻ, con nhất định sẽ sống vui vẻ.”

Giọng nói kiên định mang vẻ ngây thơ nhất mà tôi từng được nghe.

“Hơn nữa,” cô bé quay mặt nhìn anh ta, “Mẫu thân đối với thúc thúc cũng như vậy, cho nên thúc thúc cũng phải sống thật vui vẻ.”

Người đàn ông cúi đầu, tôi không nhìn thấy nét mặt của anh ta, nhưng tôi thấy tay anh ta khẽ run.

Vì vậy, tôi biết anh ta có thể lừa cô bé, nhưng vĩnh viễn cũng không lừa được chính bản thân mình.

Sau đó, người đàn ông bắt đầu lấy ra một cây tiêu, thổi một khúc nhạc tôi chưa bao giờ nghe thấy.

Tôi đã học thổi tiêu được ba năm, nhưng khi nghe tiếng tiêu ấy, tôi mới biết mình cơ bản không hề biết gì cả.

Tiếng tiêu hoang hoải lạnh lẽo xa xăm, như tiếng dế rả rích trong thềm cỏ xanh rêu, như tiếng mưa rơi tịch mịch trên đầm trống, một hồi lại ngỡ như sao sa trăng vỡ, réo rắt như tiếng suối nỉ non chảy giữa đêm dài nơi Thiên Sơn phủ đầy băng tuyết.

Khúc nhạc cứ du dương trong đầu. Tôi thậm chí còn không phát hiện tiếng tiêu đã ngưng tự bao giờ.

Lúc tôi ngẩng đầu lên, đã thấy người đàn ông ôm bé gái đứng trước mặt.

“Cậu là ca ca của Mi?” Anh ta khẽ khàng hỏi tôi.

Tôi nhìn gương mặt thánh thiện khi ngủ của cô bé, trong lòng bất giác dấy lên sự ấm áp.

“Phải, tôi là nhị ca của em ấy.”

“Nếu vậy, xin cậu hãy chăm sóc tốt cho nó.”

Vẻ mặt trịnh trọng giống như người đối diện không phải là một thiếu niên mười một tuổi. Tôi gật đầu không ngần ngại.

Tôi sẽ chăm sóc cho em, không chỉ vì em là em gái tôi, mà còn bởi vì đây là lần đầu tiên có người thật sự cần tôi quan tâm.

Người đàn ông mỉm cười. Lần này, nụ cười của anh ta không mang nhiều ưu tư.

“Ta là Phương Nhạn Dao,” Anh nói, “Là thúc thúc của Mi.”

Đây không phải là lần đầu tiên tôi nghe đến cái tên Phương Nhạn Dao. Người có chiêu kiếm “Nhẫm nhiễm tại y” (1) danh chấn giang hồ, bảy năm qua chưa từng có địch thủ, vì vậy mọi người đều gọi anh ta là “Nhẫm nhiễm tại y” Phương Nhạn Dao.

Nhưng tôi không biết rốt cuộc là thứ gì lần lữa trên y phục của anh ta, là nỗi bi thương chăng?

“Tôi đã nhớ bài hát của anh rồi,” Tôi nói, “Tôi sẽ thổi cho Mi nghe.”

Anh ta nhìn ống tiêu treo bên người tôi, ánh mắt khẽ lóe lên sự kinh ngạc và vui mừng. Sau đó, mục quang của anh trở nên ảm đạm.

“Đừng thổi cho nó nghe,” Anh nói, “Đó không phải là một khúc nhạc hay.”

Anh khẽ nghiêng đầu, dường như không muốn tôi nhìn thấy ánh mắt của anh.

“Đây là khúc nhạc ly biệt, ta đã từng thổi lúc chia tay một người.”

Tôi nghĩ đó cũng là khúc nhạc ly biệt của anh và Mi.

Bởi vì sau đêm đó chúng tôi không gặp lại Phương Nhạn Dao nữa.

Nhưng chúng tôi đều nhớ anh ta.

Không ai có thể quên một người như vậy, lúc cười đượm bi thương, lúc buồn lại thân thương, điềm tĩnh, nhẹ nhàng tỏa sáng.

Hôm nay là mồng Mười tháng Chín, là ngày chia tay của tôi và Mi.

Tôi ngồi xuống bậc thềm, tay cầm tiêu. Bắt đầu thổi khúc nhạc đã từng được nghe từ nhiều năm trước. Thật kì lạ, nhiều năm như vậy tôi vẫn còn nhớ rõ âm luật!

“Đây là khúc nhạc biệt ly.” Phương Nhạn Dao từng nói.

Hoặc giả, tôi nghe qua khúc nhạc này, nhớ kỹ khúc nhạc này, đều chỉ vì cuộc chia tay ngày hôm nay.

Mi không biết tỉnh từ lúc nào, ôm gối ngồi bên cạnh tôi.

“Đây là khúc nhạc thúc thúc đã thổi.” Em nói nhỏ.

Em ngẩng đầu ngắm nhìn bầu trời tờ mờ sáng và những ngôi sao dần lịm tắt.

“Đêm đó em nghe thấy tiếng tiêu.” Em nói, “Em biết là thúc thúc đang thổi tiêu ngoài sân.”

“Rất nhiều đêm thúc thúc thức trắng. Ông cứ ngồi im lìm như vậy cho đến khi trời sáng. Nhưng ông chưa bao giờ thổi tiêu, trừ buổi tối hôm đó.”

“Nghe tiếng tiêu ấy, không hiểu sao em lại bật khóc, em nằm trong chăn khóc đến run rẩy cả người, em nghĩ mẹ nhất định sẽ nhận ra em đang khóc. Sau đó, mẹ tự mình ngồi dậy. Em hoảng hồn, không dám nhúc nhích cuộn mình trong chăn. Nhưng mẹ không nói câu nào cả, bà chỉ từ tốn mặc y phục, chải đầu, rồi chậm rãi bước xuống giường. Mẹ không thể rời giường rất nhiều ngày rồi, nhưng đêm hôm ấy, bà đã tự mình đi ra ngoài sân.”

“Lúc bà mở cửa, tiếng tiêu bất chợt ngừng lại, chắc là thúc thúc ngạc nhiên khi trông thấy mẹ. Nhưng mẹ bảo ‘đừng ngừng lại’, cho nên thúc thúc lại thổi tiếp.”

“Em thấy mẹ có thể đi lại, trong lòng rất vui mừng, cảm thấy có lẽ bệnh của mẹ sắp khỏi rồi.”

“Lúc đó em mới năm tuổi, rất ngốc, không hoảng sợ nữa thì tính tò mò lại nổi lên. Em đến bên cửa sổ, chọt một lỗ nhỏ trên cánh cửa, đêm hôm đó trăng rất sáng, nên em có thể thấy rõ thúc thúc ngồi dưới giàn tử đằng, còn mẹ thì tựa đầu lên vai thúc thúc.”

“Em biết thúc thúc thích mẹ, bắt đầu từ ngày thúc thúc đột nhiên xuất hiện chăm sóc hai mẹ con. Mẹ luôn đối với thúc thúc rất hờ hững. Nhưng đêm đó khi mẹ ngả đầu vào vai thúc thúc, dáng vẻ dịu dàng như vậy, em mới hiểu thì ra người mà mẹ một mực chờ đợi không phải là cha em, mà là thúc thúc. Mẹ chắc chắn đã thích thúc thúc từ rất lâu rồi!”

“Em nhìn một lúc, bắt đầu cảm thấy lạnh, liền chui vào trong chăn. Tiếng tiêu vẫn cứ vang vọng, khiến em cảm thấy rất an tâm, sau đó mơ màng thiếp đi.”

“Lúc em tỉnh dậy, trời đã bừng sáng, nhưng tiếng tiêu vẫn hoài không dứt, mà mẹ vẫn chưa quay về. Một mình em nằm trên giường, phần chăn đệm bên phía mẹ đã trở nên lạnh lẽo. Em bỗng dưng cảm thấy sợ vô cùng, dường như đã có chuyện gì xảy ra lúc em đang ngủ.”

“Em bật dậy, mặc quần áo rồi gấp gáp chạy ra sân. Em nhìn thấy thúc thúc vẫn đang thổi tiêu, ông cứ thổi như vậy suốt cả một đêm. Em nhìn mẹ, mặt mẹ tựa vào vai thúc thúc, không hề động đậy.”

“Em từ từ tiến đến, ôm lấy mẹ. Cơ thể của bà đã lạnh như băng. Em muốn khóc, nhưng không sao khóc được.”

“Tiếng tiêu rốt cuộc cũng ngừng. Thúc thúc dang tay ra, ôm lấy em và mẹ.”

…. Mi không nói tiếp nữa, tôi giơ tay ôm em vào lòng.

Em chưa bao giờ nói những chuyện này với tôi, cũng như tôi chưa bao giờ nhắc đến mẹ mình trước mặt em.

Ly biệt khiến người ta thương cảm và yếu đuối. Bởi vì sắp mất thêm lần nữa, mới nghĩ đến những người hoặc những thứ đã mất từ rất lâu.

Thật ra tôi vẫn còn nhớ rõ mẹ mình, dù bà mất khi tôi chỉ mới ba tuổi.

Tôi nhớ bà đẹp lắm, làn da trắng tinh, đôi mắt sáng tinh anh, khi cười rạng rỡ đến lóa mắt. Bà cười nhiều nhất là lúc cha nhìn bà. Cha có lúc đối với bà rất tình cảm, nhưng sau này tôi mới biết ông không hề yêu bà.

Cha không yêu ai cả, cho dù là bốn bà vợ hay mấy đứa con trai con gái của mình. Tôi chưa từng thấy trong mắt ông sự dịu dàng và quyến luyến mà chỉ khi yêu ai đó mới có.

Tôi còn nhớ có một lần uống say, mẹ đã lay tôi dậy, bà khóc hỏi tôi, có phải là không có ai xứng với sự hoàn hảo của cha, cho nên ông mới không yêu ai cả?

Suốt đời này, tôi cũng không thể quên nét mặt của bà lúc đó. Rất lâu sau, tôi mới hiểu, thì ra tận cùng của yêu thương chính là tột cùng đau khổ.

Thế nhưng tôi lại yêu cha mình.

Ông ấy là cha tôi.

Tôi không có cách nào không yêu ông ấy.

Tôi làm hết khả năng của mình, chỉ hi vọng có thể xứng đáng là con trai ông.

Tôi hi vọng có một ngày ông có thể nhìn tôi một cái, vừa chuyên chú vừa thương yêu, không cần nói gì cả, tôi sẽ biết tôi là cục vàng trong lòng ông.

Tôi nỗ lực đọc sách, luyện kiếm, tôi học tất cả những gì tôi có thể học được.

Tôi quên ăn quên ngủ, ngày cũng như đêm, học thi từ ca phú, thư họa cầm kỳ, kiến trúc thiết kế, thiên văn y thuật.

Tôi khổ luyện khinh công gia truyền và thất đại kiếm pháp, tôi nghiền ngẫm tinh hoa kiếm pháp của ba mươi sáu môn phái mà tổ tiên đã sưu tầm chỉnh sửa, tôi đọc đi đọc lại các bộ đao pháp quyền thuật trên giang hồ. Thậm chí trong mơ tôi cũng nghĩ đến các chiêu thức.

Năm mười sáu tuổi, tôi đã sáng tạo ra vài chiêu kiếm khiến người phụ trách dạy dỗ chúng tôi là Tam thúc vô cùng tán thưởng. Một lát sau, cha gọi tôi đến, báo cho tôi biết việc ông đã ghi những chiêu thức đó vào bộ kiếm pháp mới của ông. Ngoài ra, từ bây giờ tôi có thể theo ông và đại ca hành tẩu giang hồ.

Cả đời này tôi chưa từng vui đến vậy, nếu như sau chừng ấy năm kiềm nén, tôi còn biết cách nhảy cẫng lên hoan hô, tôi nghĩ tôi nhất định sẽ làm như thế.

Tôi đi tìm Mi, chỉ có em mới hiểu được tôi vui thế nào. Tôi nhìn em hưng phấn bừng bừng nhảy cẫng lên, thay tôi biểu hiện nỗi vui sướng, ngay cả khi bản thân tôi chỉ biết nhẹ nhàng mỉm cười.

Mùa xuân năm ấy khu vườn phủ đầy sắc vàng của hoa liên kiều (2), sáng lạn rực rỡ tràn đầy ý xuân. Tôi thổi sáo cho Mi nghe, không thổi tiêu, bởi vì tiếng sáo trong lành vui tươi, như tâm tình của tôi.

Tôi dùng một ngày một đêm để vẽ lại bố cục khu vườn, tôi nghĩ sẽ có một ngày nào đó, tôi để cho phụ thân nhìn thấy khu vườn đã thiết kế lại của chúng tôi, như việc năm đó ông đã biến Hề Tú Viên trở thành một vườn cây nổi tiếng khắp Giang Nam.

Tôi thật sự cho rằng mộng tưởng cả đời tôi đang bắt đầu thành hiện thực.

Tôi đã trải qua một năm đầy mới mẻ và kinh ngạc ở giang hồ.

Tháng đầu tiên, tôi phát hiện kiếm pháp của tôi còn cao hơn so với tưởng tượng, tôi dễ dàng đánh bại đối thủ chỉ trong có một hoặc hai chiêu. Tháng thứ hai, tôi nghênh chiến với nhiều đối thủ lợi hại hơn, nhưng chỉ trong một vài chiêu, kiếm pháp của bọn họ bắt đầu lộ rõ sơ hở. Tháng thứ ba, sau khi tôi đánh bại địch thủ thứ mười lăm kể từ khi tôi bước vào giang hồ, tôi vẫn không hề đắc ý. Bởi vì thái độ hờ hững của phụ thân đã ám chỉ cho tôi biết, thân phận là con cháu nhà Mộ Dung đánh bại những đối thủ như thế này là chuyện đương nhiên. Sơ hở của đối thủ đã cảnh tỉnh tôi, tôi bắt đầu xem xét lại kiếm pháp của mình, sửa chữa mỗi khiếm khuyết có thể. Một năm đó, tôi thu hoạch không ít.

Năm thứ hai, đối thủ đầu tiên của tôi là thủ tịch đại đệ tử của Không Động phái, Tạ Uyên Đình.

Cha không cho phép tôi kể với bất kỳ ai về trận đấu này, bắt tôi tự mình bế môn luyện công.

Bảy ngày trước trận đấu, khi cha, đại ca và tôi vừa lên đường, cha nói giọng lạnh lùng, trận đấu này là lấy danh nghĩa của đại ca, Tạ Uyên Đình mới đồng ý ứng chiến. “Đến lúc đó, ngươi phải xuất hiện dưới thân phận của đại ca ngươi.”

Tôi đứng lại. Không hiểu gì cả.

Tôi chưa từng tranh chấp với cha, huống hồ chuyện kinh thiên động địa như thế này, muốn cãi cũng không biết cãi từ đâu.

Đại ca ở bên cạnh cười nhạt: “Sợ ta đoạt mất danh tiếng của ngươi à? Nhưng nếu ngươi thua, người phải chịu tai tiếng chính là ta đây.”

Tôi không nói gì.

Tôi dịch dung cải trang quyết chiến với Tạ Uyên Đình. Tôi với đại ca vốn dĩ tướng mạo tương đồng, lại thêm thuật dịch dung khiến cho càng khó phân biệt. Tạ Uyên Đình không hề nhìn ra sơ hở nào.

Tôi đánh bại Tạ Uyên Đình ở chiêu thứ tám, “Huyễn Vũ thập thất kiếm” đắc ý nhất của hắn chưa sử được một nửa.

Ngay khi tôi tưởng mọi chuyện đã kết thúc, thật ra lại mới chỉ là bắt đầu.

Mười một tháng tiếp đó, tôi thay đại ca đánh thắng mười hai địch thủ.

Bí mật của chúng tôi không một ai biết, ngay cả người nhà cũng không rõ, chứ đừng nói là người dưng.

Trưởng tử Mộ Dung Nguyên của Mộ Dung phủ từ đó danh nổi như cồn, trở thành một nhân vật ưu tú trong lớp hậu bối giang hồ. Còn thứ tử Mộ Dung Lan, đã không còn ai nhắc đến anh ta với những thắng lợi không đáng kể đến.

Lòng tôi giá lạnh.

Đến bây giờ, tôi mới biết tôi đang diễn vai gì.

Tôi không phải là Mộ Dung Lan, không phải là đứa con trai nào khác của ông ấy.

Tôi chỉ là cái bóng của Mộ Dung Nguyên.

Tôi chỉ là một cái bóng cầm kiếm.

Một cái bóng vô danh.

Nhưng tôi không hề tuyệt vọng.

Ít nhất thì cha biết, cha thấy, thắng lợi của tôi, trưởng thành của tôi.

Khi tôi thắng càng lúc càng nhiều địch thủ, sẽ có một ngày, ông tin tưởng tôi có thể đơn độc đối diện, có thể lúc đó, ông sẽ trả lại cái tên Mộ Dung Lan cho tôi. Còn về phần thiên hạ, họ chẳng liên quan gì với tôi cả. Tôi mà có muốn ai đó biết được những chiến công của mình, cũng chỉ vì một điều tôi muốn cha tự hào về tôi.

Tôi tự an ủi mình như thế.

Nhưng không khống chế được nỗi buồn lộ rõ qua hàng mi ủ rũ ngày qua ngày.

“Nhị ca, làm thế nào để anh thật sự vui vẻ đây?” Mi từng hỏi tôi như vậy.

Tôi không biết nên đáp thế nào.

Cuối cùng đành nói: “Có lẽ... là khi người anh quan tâm quan tâm lại anh.”

Nhưng rốt cuộc là chừng nào chứ?

Có lúc tôi cảm thấy ngày đó ở ngay trước mặt, giơ tay là chạm được. Có lúc lại thấy nó vĩnh viễn sẽ không hề diễn ra, mờ mịt không dám nghĩ tới.

Hai năm sau đó, đại ca càng có tư cách khiêu chiến các cao thủ hàng đầu, áp lực đối với tôi cũng ngày một tăng.

Tôi bắt đầu bị thương, có lúc thương tích không nhẹ, nhưng mỗi lần, tôi đều cố gắng đánh bại đối thủ, để không phụ sự kì vọng của cha và đại ca. Danh tiếng của đại ca lên như diều gặp gió, cơ hồ có thể sánh ngang hàng với ba đại cao thủ kiếm thuật trên giang hồ.

Cha vẫn lạnh nhạt với tôi.

Còn đại ca, tôi nhìn không thấu anh vui hay buồn.

Người cao ngạo như đại ca, đáng lẽ không thể nào chịu nổi cảnh tôi đội lốt lâu như vậy mới phải, nhưng đằng này anh không nói lời nào cả, hình như anh với cha có giao ước ngầm.

Tôi không hiểu hai người đó.

Thậm chí ngay cả bản thân mình, tôi cũng không hiểu.

Tôi không biết tôi làm như vậy rốt cuộc là để mong ngóng điều gì nữa.

Ngoài việc lần lượt tham gia quyết đấu, tôi không nhìn thấy tiền đồ và tương lai của mình ở đâu cả.

Nửa đêm tỉnh giấc, người đầy mồ hôi lạnh, sợ hãi và trống rỗng cùng cực, bởi vì tôi nhìn thấy chính mình mập mờ trong mộng, thậm chí còn không thốt ra được tên của bản thân. Tôi như nhìn thấy vận mệnh không thể nào thay đổi của mình. Tôi vô cùng sợ hãi giấc mơ đó sẽ thành hiện thực.

Trận chiến quan trọng nhất tôi thay đại ca ra trận là vào mùa thu năm tôi hai mươi tuổi.

Khiêu chiến chưởng môn Võ Đang, Tùng Nham đạo trưởng, đứng đầu tam đại cao thủ kiếm pháp đương thời.

Tôi không nắm chắc một chút nào.

Không ai không biết tuyệt chiêu “Vạn Hác Tùng Đào” của Tùng Nham đạo trưởng uy lực kinh người, đã ra tay là khó thu về được. Xuất thủ bốn lần, không một người sống sót.

Tôi không dám đảm bảo mình sẽ là người đầu tiên sống sót dưới tuyệt chiêu đó.

Ba ngày trước cuộc chiến, tôi luôn ở bên Mi, giống như chúng tôi sẽ chia tay vĩnh viễn vậy.

Tôi chỉ cần từ biệt với em là đủ, vì trừ em ra, không người nào quan tâm đến sống chết của tôi.

Lúc chúng tôi đi, Mi chạy theo đưa tiễn.

Em không hề biết mai này đây, em có thể sẽ không còn gặp lại nhị ca nữa.

Trên đỉnh Võ Đang.

Mười cao thủ đứng đầu võ lâm đến xem trận đấu.

Dưới chân núi là hằng hà vô số đệ tử Võ Đang và nhân sĩ võ lâm háo hức đợi tin.

Tôi và Tùng Nham đạo trưởng kịch chiến năm trăm chiêu.

Đánh từ lúc mặt trời mọc đến khi mặt trời lặn, mưa rơi rồi mưa tạnh, nhưng ông vẫn chưa thi triển “Vạn Hác Tùng Đào”.

Tôi tập trung toàn bộ tinh thần, đến lúc ông ta la lên “Cẩn thận!” rồi xuất chiêu, tôi mới biết dù cho có đề phòng ra sao, cũng chỉ là vô ích.

Một kiếm kia phảng phất như cuồng phong réo gọi, tiếng gió ầm ầm tựa như vọng về từ ngàn vạn hang hóc âm u mịt mù đập vào mặt.

Một kiếm thi ra trong tích tắc nhưng ẩn chứa vô số đường kiếm, như sóng dữ cuồn cuộn vọt tới. Không có đường lui, không thể chống đỡ, thế như chẻ tre, không còn đường sống!

Trong ánh chớp lóe lên, ông nhẹ nhàng điểm mũi kiếm vào bên ngực phải của tôi.

Tôi cố gắng né, nhưng vẫn trúng thêm hai kiếm nữa.

Gió núi nổi lên, tôi cơ hồ đứng không vững. Trong khoảnh khắc, linh quang hiện lên, tôi không kịp nghĩ nhiều, vận hết sức lực, không nhìn bóng kiếm, trực tiếp vung gươm đâm vào cổ tay ông ta.

“Vạn Hác Tùng Đào” bất chợt bặt tăm tích.

Tôi trở về từ cõi chết, khí huyết dâng trào. Ngẩng đầu, thấy Tùng Nham đạo trưởng mặt xám như tro.

“Làm sao, làm sao ngươi phá được?”

“Cây lặng tất gió dừng.” Tôi nói, “Tay của ông che lại thế gió.”

Tùng Nham đạo trưởng ngửa mặt lên trời cười lớn, vất đi thanh kiếm trong tay, “Ban đầu ta thương tiếc nhân tài, không muốn thấy ngươi chết dưới tuyệt chiêu của ta. Đáng tiếc nhất thời háo thắng, cuối cùng nhịn không được xuất thủ, đúng là tự chuốc lấy nhục, tự chuốc lấy nhục!”

“Thắng bại chưa định, đạo trưởng sao lại nói thế?”

Ông ta lắc đầu than: “Tuyệt chiêu đã bị người phá, còn mặt mũi nào đánh tiếp đây?”

Quay lưng bước đi, đột nhiên xoay người lại, “Công tử tư chất phi phàm, trên con đường kiếm thuật tiền đồ vô lượng, năm năm sau nhất định không có địch thủ. Bảo trọng!”

Tôi biết ông muốn tôi bảo trọng, là muốn tôi sớm ngày chữa trị ba vết thương trên người.

Ba kiếm đó nhanh đến mức khiến người ta chưa kịp cảm giác, miệng vết thương lại sâu. Máu chảy rất nhiều, chỉ vì mặc hắc y nên không thấy vết máu.

Nhưng tôi chưa thể rời đi như vậy, tôi vẫn còn chưa diễn xong vai của mình.

Cha dìu tôi đứng hàn huyên với những người tiến lên chúc mừng ca tụng. Cứ như vậy nửa giờ sau mới có thể thoát thân trở về quán trọ, mệt lả cả người.

Quần áo đẫm máu. Mất máu quá nhiều khiến cho tôi đau đầu hoa mắt.

Tôi tự lấy nước nóng, xử lý vết thương, thay y phục. Đang trong lúc thu dọn thì có người gõ cửa.

Tôi mở cửa. Là cha.

Ông hờ hững nhìn căn phòng bề bộn, nhưng chỉ nói, “Tiệc mừng công tối nay nhớ tới.”

Tôi chết lặng.

Ông rõ ràng thấy tôi đang bị thương, rõ ràng biết tôi bị thương, nhưng một câu hỏi thăm tôi bị thương như thế nào ông cũng không nói.

Điều ông quan tâm chỉ là, tôi, thân là đệ đệ của Mộ Dung Nguyên, không thể nào không có mặt để chúc mừng. Ông nhắc nhở tôi dù cho đã diễn xong vai diễn của đại ca rồi, tôi vẫn phải diễn vai của chính mình.

“Con sẽ không làm hỏng việc.” Tôi nói. “Xin hãy yên tâm!”

Đêm đó, tôi kính rượu cha, kính rượu đại ca, và kính rượu rất nhiều người.

Tôi biết rõ bản thân bị thương không nên uống rượu, thế nhưng tôi lại muốn say.

Nhưng cái bộ dạng buồn bã này của tôi, nốc mấy cũng không say được.

Tôi nên vui mới phải, bởi vì tôi nghe nhiều người ca ngợi một kiếm kia của tôi.

Nhưng thế thì sao? Cho dù tôi có phá giải được hết các tuyệt chiêu trên đời, tôi cũng không được cha thích, không, nói gì đến thích chứ, ngay cả một chút quan tâm còn không có. Tôi dựa vào đâu để vui? Dựa vào đâu để vui chứ?

Đêm đó, tôi không say. Tôi chỉ bị sốt.

Suốt ba ngày về, cơn sốt vẫn không thuyên giảm.

Tay chân tôi lạnh cóng, nhưng nội tâm và cơ thể thì nóng như bị lửa đốt.

Tôi không tin cha không nhận ra tôi có gì bất thường, trừ khi ông không hề để ý đến tôi, trừ khi ông cố tình bỏ qua.

Lúc đó, tôi mới nhận thấy bản thân mình thật nực cười.

Nực cười làm sao, một kẻ chiến đấu lừa mình dối người. Hắn một mực cho rằng chỉ cần hắn đánh thắng càng nhiều đối thủ mạnh, sẽ có một ngày hắn trở về với thân phận của mình. Hắn thậm chí còn mơ hồ tin rằng chiến thắng trước Tùng Nham đạo trưởng chính là cơ hội thay đổi cả đời hắn.

Nhưng hắn đã hoàn toàn sai rồi.

Càng thắng nhiều người, hắn càng không cách nào thoát thân. Giống như một cây kiếm, càng chiến càng vô địch, chém sắt như bùn, chủ nhân của nó khẳng định sẽ không buông nó ra.

Ngay cả một chuôi kiếm, thỉnh thoảng còn được lau chùi, được nâng niu trân trọng.

Còn tôi, biết bao nhiêu lần sinh tử trước mắt, thương nặng thương nhẹ, nhưng cha chưa bao giờ hỏi han tiếng nào.

Ông cũng có lúc quan tâm đến tôi, nhưng chỉ là vì thắng bại của tôi. Còn về phần tôi sống hay chết, ông thậm chí còn không nhíu mày một lần. Ông luôn bàng quan, lạnh lùng, thờ ơ, vô cảm, mặc tôi tự sinh tự diệt, tự đau tự lành.

Tôi nhớ lại niềm vui vô hạn của thuở thiếu niên mười sáu tuổi, mỉm cười thổi sáo bên sắc hoa vàng mênh mang, vỏn vẹn bốn năm, giật mình ngỡ như đã hết một đời người. Nhưng hắn trong kí ức tôi như bức họa còn tươi màu mực, vĩnh viễn không thể quên. Tuy rằng hắn rất ngây thơ, ngây thơ đến độ vừa đáng thương vừa hoang đường, nhưng hắn đã mang đến cho cuộc đời này của tôi niềm hạnh phúc vui mừng chưa từng có. Giây phút hạnh phúc ngắn ngủi trong cuộc đời tôi đã chắp cánh bay xa, mãi mãi không quay trở lại.

Gia đình chờ đón chúng tôi bằng một bữa tiệc mừng khác.

Tôi không cần cha nhắc nhở cũng tự biết nên ngồi ở đâu.

Tôi uống mê mải, không say cũng tốt, ít ra còn có hi vọng say.

Đột nhiên, một chiếc đũa trúc bay đến đâm vỡ ly rượu của tôi.

Một giọng nói lạnh lùng vang lên. “Một người u sầu, mọi người mất vui. Nếu không có hứng ngồi nữa, thì về phòng đi.”

Tôi không ngẩng đầu. Vì không cần thiết.

Vốn tưởng rằng tâm đã chết, hiện tại mới biết không phải. Tâm đã chết không đau đến nỗi tôi cảm thấy như nó lại chết lần nữa.

Mảnh vỡ ly rượu cắt vào tay, bàn tay run rẩy giấu trong tay áo, chậm rãi đứng lên.

Tôi bước ra khỏi đại sảnh. Trong ánh nhìn chăm chăm của bao người.

Những ánh mắt khác lạ đó không mảy may làm tổn thương tôi, vì tôi đã bị thương đến tận xương tủy.

Tôi đến phòng bếp, ôm lấy hai vò rượu.

Đến khu vườn của chúng tôi.

Sau đó, Mi cũng đến. Mi của tôi.

Em uống cùng tôi.

Em buồn cùng tôi.

Nhưng em cũng không cứu được trái tim tôi.

Tôi quay lại phòng mình.

Tôi ho ra đờm, nôn ra máu.

Người nóng hầm hập như bị lửa đốt.

Tôi đấu suốt bốn ngày, không, tôi đã đấu trong hai mươi năm trời.

Tôi không còn đủ sức nữa.

Thậm chí không còn nghĩ đến việc nhìn thấy ngày mai.

Nhưng Mi không muốn tôi chết.

Trong lúc hôn mê sâu, tôi vẫn cảm giác được Mi đang ở bên cạnh mình. Em chăm sóc tôi, như những lần tôi bị thương trước đây. Khi tôi nôn thốc nôn tháo đau thắt ruột gan, khi tôi cảm thấy sống không bằng chết, tôi đều cảm giác được tay em gắt gao nắm chặt lấy tôi, phảng phất như chết cũng không chịu buông, vĩnh viễn cũng không buông.

Tôi không thể bỏ lại em một mình, cô đơn lạc lõng, trong cái thế gian này, trong cái gia đình này.

Tôi là nhị ca của em, tôi đã hứa chăm sóc cho em, từ lần đầu gặp em vào nhiều năm về trước.

Tôi còn chưa kịp thổi khúc nhạc đó cho em nghe, chúng tôi không thể chia tay không nói một lời như vậy.

Tôi phải sống, vì Mi.

Trong biển người mênh mông này, chí ít vẫn còn hai chúng tôi, ấm lạnh có nhau.

Lúc tôi tỉnh lại đã là nửa đêm, ánh nến tù mù soi lên những dòng lệ trong suốt đọng trên gương mặt tiều tụy của em.



`



Ngày đó, chúng tôi không xa nhau.

Nhưng mà bây giờ, khi tôi thổi khúc nhạc đó cho Mi nghe, chúng tôi không thể nào không chia tay.

Trời mờ sáng, tôi nhìn vào mặt em.

Ánh mắt đó, gương mặt đó, thân thiết là thế, không biết lúc nào mới gặp lại.

Tôi nhẹ nhàng xoa đầu em. “Mi à,” tôi nói, “Chăm sóc tốt bản thân. Có một ngày, anh sẽ đến đón em quay về.”

Mi cười: “Nói không chừng em sẽ thích nơi đó, không muốn về đâu.”

“Sao cũng được, miễn là em hạnh phúc!”

Đời này của tôi đã không thể nào vui vẻ được nữa.

Nếu như có thể, tôi hi vọng Mi sẽ hạnh phúc luôn cả phần của tôi.

Đội ngũ đón dâu của Trì gia chầm chậm băng qua thành thị náo nhiệt ở Tô Châu. Người người rủ nhau đến xem cảnh Giang Nam Mộ Dung và Tái Bắc Trì gia một lần nữa trở thành sui gia. Nhưng không có một ai cười vui, biểu tình trên gương mặt bọn họ rất kỳ quặc, không hề giống xem cảnh đón dâu náo nhiệt, mà giống như đang nhìn người ta gặp họa.

Mười năm trước, Mộ Dung Ninh, vị cô cô xinh đẹp nhất của tôi, cũng vượt ngàn dặm xa xôi gả đến Trì gia. Ba năm sau, Trì gia gửi thư báo cô cô bệnh nặng qua đời. Nhưng thế gian lại lan truyền lời đồn đãi, cô cô bị Trì gia bức điên, tự thiêu mình trên đỉnh Hồng Liên.

Tất nhiên là Mi đã nghe qua tin đồn này.

Em mới có mười tám tuổi, em có thể nào không sợ chứ?

Nhưng em vẫn kiên trì.

Người tôi hứa phải chăm sóc, lại vì tôi hi sinh bản thân.

Mi của tôi. Mi của tôi.

Tôi tiễn em đến trường đình.

Qua tấm rèm xe, chúng tôi kính nhau ly rượu ly biệt.

Chén rượu sóng sánh một bầu trời không mây, sầu buồn man mác. Chúng tôi một hơi uống cạn.

Mi nhanh chóng buông rèm xuống, tôi nghĩ em không muốn tôi nhìn thấy em khóc.

Tôi ôm quyền từ biệt Trì Lạc Ảnh. Lên ngựa phóng đi.

Trong suốt hai mươi năm qua, tôi đã bỏ ra quá nhiều.

Sẽ có một ngày, tôi lấy lại tất cả.

Tất cả mọi thứ, bao gồm, Mi của tôi.





------


1. Nhẫm nhiễm: lần lữa, trì hoãn | y: y phục, quần áo
2. Liên kiều: Xem giải thích và hình ở đây.



on 1 tháng 3, 2013



Chính xác là Sài Gòn dạo này nóng quá! Chiều còn đỡ, chứ ban trưa thì mở đến mấy cái quạt cũng vẫn nóng. Thèm ăn ly kem! Mình nhớ MOF. ="=

Dòm cảnh biển Quy Nhơn Tata thảy qua càng làm mình dấy thêm khát khao đi biển. Trời ạ, hãy cho con free mấy ngày con đi chơi đi!!!!!!!!!!!

Đang coi "Luyến ái quý tiết". Thích mùa hạ hí hí. Câu chuyện "tình đầu quay về tìm nhau" lúc nào cũng kích thích đến lạ lùng!


Cập nhật tình hình truyện:

+ Mi Lan Trì: Bướm đã giao mình chương 2, và mình đang beta lại. Càng ngày càng thấm một điều: dịch không khó, beta mới khó. Hic, đang lần xà quần ở trang 4 chưa bước được sang trang 5 nữa. T^T

+ NCV, THS: đang mần. Sẽ cố gắng ít nhất một chương mỗi tuần. Nhưng khi chính chủ lười thì lại khác :p



*lăn lăn* Thiên thần nào qua quảy em đi ăn kem đi *-*
on 24 tháng 2, 2013


Trình bày: Tấn Tài, Ngọc Giàu
Soạn giả: Yên Trang






Đại ca ơi! Em lạnh lắm rồi anh hỡi anh
Gần nhau cho ấm lửa hương tình
Cho trăm năm nữa ngàn năm nữa
Đẹp chuyện chúng mình.........trong... sử xanh
Giây lát nữa cam đành xa nhau
Em ở lại đớn đau
Anh đi trả thù sâu
Đêm tiễn đưa nghẹn ngào
Rưng rưng chuỗi lệ sầu

Trót hẹn cùng cừu nhân tối nay
Chớ xót thương vững tin anh về đây
Em sợ mình chia hai lối đi
Anh lẻ loi cũng như em sầu bi.

A Châu ơi, anh sẽ về đây đón gió nữa khuya lay ngàn sao rụng. Để nhặt cho em cài lên tóc rối, làm lễ thành hôn trên nền cỏ dại, em hái đời trai anh hái... môi... hồng...
Em sẽ chẳng còn đơn chiếc và anh đây cũng không còn cô độc lạnh lùng...
Ta cùng dắt nhau về ải nhạn, bắt bướm chăn cừu dưới trãng mờ sương.
Nếu có nắng em hong mái tóc, để đêm về đắp lạnh cho anh.
Trời có mưa anh hơ môi đỏ, bằng nồng nàn hơi thở yêu đương.
Em trốn vào anh và anh đây cũng trốn vào trong em mãi mãi

Dù yêu trăm tuổi như đôi đũa
Xa cách vài canh tưởng suốt đời
Năm tới trả thù chưa muộn lắm
Năm này dành trọn để cùng vui

A Châu ơi, anh thương em nhiều lắm, càng thương em anh càng hiểu mau thanh toán hận thù...
Rồi chẻ gươm đao thành lược chải tóc người yêu bé bỏng u sầu...
Nhớ những lúc vào sanh ra tử, anh đây khinh thường xem tựa trò chơi.
Hôm nay anh cảm thấy băn khoăn trong dạ, phải rồi ngày xưa ta chẳng bị ai ràng buộc.
Bây giờ có mặt A Châu nên tánh mạng Kiều Phong này quý giá làm sao.....

Ngủ đi em chớ buồn đau
Canh này tạm biệt canh sau sum vầy

Kiều Phong! Kiều Phong! Trời ơi anh đã đi
Tình ta chấm dứt từ đây
Anh về là để vùi thây nhân tình

Đoàn Chính Thuần hãy tiếp đón Hàng long thập bát chưởng của ta!
Kìa tại sao nhà ngươi lại đứng yên không chống đỡ?
Trời A Châu! Anh đã đánh A Châu... anh đã giết em... trời ơi anh là kẻ đã gây nên tội...
A Châu ơi... em hãy tha thứ tội cho anh...

Tội của ai trên tấm thân em sẽ nói rõ ràng câu chuyện
Anh hãy nhìn đi Đừng sợ em phiền đừng lo em thẹn
Vì cuộc đời em từ nay trọn vẹn của... anh... rồi... Có thấy chăng chữ Đoàn màu đỏ trên người...
Em là con của Trấn Nam Vương Đại Lý, giả dạng cha chịu chết dưới tay anh.
Oan nghiệt thay chính em đã lập mưu bày kế tìm ra tên họ kẻ thù
Ngờ đâu ấy là thân phụ vô tình sắp gây tội ác, là tiếp tay anh sát hại nghiêm đường

Anh biết mai này anh mất em
Mai này anh sống với ưu phiền
Như chim lẻ bạn trong mưa gió
Sám hối ngày đêm đoạn nỗi niềm

Kẻ sám hối là em mới phải, vì đã cố tâm gạt người vô ý, mượn cánh tay anh hủy hoại thân mình...
Bỏ cuộc yêu đương trong lúc cùng nhau đi giữa đường tình...
Bỏ gió bỏ trăng bỏ lời ước hẹn, bắt bướm chăn cừu ở Nhạn môn quan.
Bởi vì em không thể sống để nhìn hai kẻ thân yêu một mất một còn.
Mà ai còn ai mất em cũng tiếc thương, ai thắng ai thua em cũng đau buồn.

Đã dở dang rồi những ước mơ
Anh về dĩ vãng gọi đò đưa
Căng bườm hồn phách trên dòng nhớ
Thăm viếng từ nơi kỷ niệm thừa

A Châu ơi A Châu... trời ơi em đã chết rồi, đang nằm bất động như cánh hoa trôi. Đời là dòng suối anh là mây bay, mây chìm trong suối chở cánh hoa sầu, như trong tay anh có em gần gũi mà chẳng hiểu nhau.

Về đâu em hỡi về đâu.
Về sông hay biển nghe sầu lẻ loi 
Sóng tình nổi với sóng đời 
Cho mây vờn cánh hoa trôi dịu dàng

Bỏ anh đành sao A Châu ơi!
Tuổi đời còn trẻ tình đầu còn thơm
Vùi em xuống đất mà buồn
Mà nghe nước mắt khơi nguồn ngàn năm.


on 18 tháng 2, 2013

NHIẾP CHÍNH VƯƠNG, THUỘC HẠ SỢ !!!

Cẩm Ảnh | Khuyên



 photo
NCVTHS2_zps6d459e99.jpg





CHƯƠNG 5 + 6: NGHĨA HUYNH ĐẾN CHƠI


Hà Thanh Quân đi ngang qua sân trước, hai vị chủ nợ tưởng là bọn cô muốn trốn, liền chặn ở cửa, la hét ỏm tỏi.

Liễu Thanh Phi ở ngoài kia nghe thấy tiếng ồn, hiếu kỳ tiến vào: “Nghĩa muội----”

Hà Thanh Quân cười gượng một tiếng, sau đó hé ra một nụ cười vô cùng sáng chói: “Nghĩa huynh vẫn uy dũng lỗ mãng như vậy, haha.”

Chân mày của Liễu Thanh Phi giật giật, nghĩa muội vẫn cái kiểu ăn xiên nói xéo như ngày nào, liếc nhìn hai chủ nợ trong sân: “Nghĩa muội, hai vị đây là...”

Hà Thanh Quân sốt ruột kéo anh qua một bên: “Liễu đại ca, năm trăm lượng, huynh có không vậy?”

Liễu Thanh Phi nhìn gã đang phồng mang trợn mắt trong sân, bỗng dưng hiểu rõ, không nói lời nào từ trong ngực móc ra một tấm ngân phiếu.

Hà Thanh Quân nhanh như chớp đoạt lấy ngân phiếu, đưa cho Chung Lâm. Năm trăm lượng, phần còn dư lại, cũng đủ cho bọn sư muội sư đệ cầm cự một thời gian.

“Chung Lâm, muội đi đối phó với bọn họ. Liễu đại ca, mình ra đại sảnh thôi.”

Liễu Thanh Phi gật đầu.

“Liễu đại ca, xin mời dùng trà.” Hà Thanh Quân cung kính dâng trà.

Liễu Thanh Phi nhận lấy chén trà, nhìn chằm chằm cô, chỉ thấy sắc mặt của cô vẫn tươi tắn như trước, đôi mắt thăm thẳm sáng ngời, chủ nợ đến tận cửa cũng không thấy cô tỏ vẻ chật vật, có thể thấy cô đã thật sự buông được chuyện kia rồi.

Anh nâng chén lên uống cạn, Hà Thanh Quân vội vã cầm ấm trà rót đầy. Liễu Thanh Phi nhìn cô, lại nâng chén uống, Hà Thanh Quân tươi cười rót tiếp...

Liễu Thanh Phi nhìn chén trà, lên tiếng “Thanh Quân, huynh vượt ngàn dặm xa xôi từ kinh đô An Lạc đến đây, không phải là để uống trà.”

Hà Thanh Quân đặt ấm xuống, bàn tay vuốt ve sáo ngọc bên hông, cười hề hề: “Đúng vậy, muội biết là Liễu đại ca nhớ muội. Huynh yên tâm đi, Nhạc Sơn là nơi muội lớn lên, muội về đây giống như cá gặp nước vậy, rất là thoải mái.”

Liễu Thanh Phi: “...”

Hồi lâu, mới khẽ thở dài: “Rất thoải mái? Kể cả khi bị người ta đòi nợ?”

Hà Thanh Quân lúng túng cười, gãi đầu: “Đây là ngoài ý muốn, ngoài ý muốn mà... Hề hề, cuộc sống có ai không gặp phải chuyện ngoài ý muốn chứ? Đời muội cứ ngoài ý muốn miết thôi...”

Liễu Thanh Phi trầm mặc, sau đó nhìn cô: “Thanh Quân, huynh không phải đi làm thuyết khách cho Bạch Dật Dương. Huynh đến Nhạc Sơn, là có chuyện tìm muội.”

“Hả?” Hà Thanh Quân có hơi bất ngờ, cười tự giễu. Là mình suy nghĩ linh tinh, nhiều năm như vậy rồi, Liễu đại ca cũng không còn khuyên cô nữa.

Liễu Thanh Phi nói: “Lần này huynh đến là nhận ủy thác của Nhiếp Chính Vương, mời muội vào kinh bảo vệ Nhiếp Chính Vương.”

Hà Thanh Quân ngây người, chớp mắt, lại chớp mắt, giọng lắp bắp: “Nhiếp Chính Vương? Hắn... võ công trác tuyệt, thị vệ hàng hàng lớp lớp, vì sao lại ngàn dặm tìm đến muội?”

Liễu Thanh Phi đã đoán trước cô sẽ từ chối, mỉm cười, bình tĩnh xác nhận: “Nhiếp Chính Vương mặc dù võ công cái thế, nhưng cũng chỉ là người thôi, chứ không phải là thần. Triều chính, tiểu hoàng đế, thái hậu, nước Thiên Tấn, luôn làm ngài đau đầu. Đã vậy ngày ngày đều có sát thủ lẻn vào hoàng cung, lần nào cũng đều do Nhiếp Chính Vương tự mình động thủ, ngủ cũng không yên giấc, cho nên...”

Hà Thanh Quân cau mày: “Liễu đại ca, huynh cũng biết, kinh thành chứa đầy ký ức đau khổ của muội. Cho nên muội không muốn quay về nơi đó đâu.”

Ngoài ra, nếu Nhiếp Chính Vương muốn tìm hộ vệ, dõi mắt nhìn, cao thủ ở đâu chẳng có, cần chi phải vượt ngàn dặm đến Nhạc Sơn mời cô. Công phu của cô tuy cao, nhưng lại là phụ nữ, ai bằng lòng tuyển chứ? Trong đó tất nhiên không thể thiếu ân tình của Liễu đại ca.

Nhưng mà Liễu đại ca rốt cuộc có ý gì? Rõ ràng biết An Lạc là nơi thương tâm của cô, cần gì phải đưa đẩy cô trở về chốn cũ, chẳng lẽ cô mất mặt như vậy còn chưa đủ sao?

Liễu Thanh Phi nói: “Thanh Quân, mặc dù huynh từng mong muội và Bạch Dật Dương trở lại bên nhau, nhưng chuyện này không liên quan gì đến đệ ấy cả. Thật ra là vì... muội tương đối thích hợp, muội võ công cao cường, lại là người trong giang hồ, có một số việc làm tương đối dễ dàng. Quan trọng hơn chính là, muội không phải rất giỏi trận pháp sao? Cái này so với võ công quan trọng hơn, còn nữa...”

Vừa nói, vừa hạ thấp tầm mắt. Thật ra Nhiếp Chính Vương chịu thu cô, nguyên nhân cuối mới là quan trọng nhất.

Hà Thanh Quân thu lại nét cười, nhăn mày: “Liễu đại ca, Nam Uyển cùng Thiên Tấn trước mắt vì quặng bạc Ngô Sơn, giương cung bạt kiếm, chiến sự không ngừng... Huynh chắc là sẽ không tiết lộ việc muội biết cách tìm mỏ chứ?”

Liễu Thanh Phi đứng lên, khom người hành lễ với cô: “Thanh Quân, đúng là vi huynh không phải. Nhưng muội hẳn cũng biết, Nhiếp Chính Vương ngài ấy... dù sao cũng liên quan đến lợi ích triều đình, vi huynh...”

Hà Thanh Quân cảm thấy mồ hôi lạnh chảy ròng ròng, giơ tay lên lau: “Liễu đại ca, muội bị huynh hại chết mất thôi. Huynh cũng biết mà, nếu chỉ là tìm mỏ bình thường thì không nói làm gì, đằng này...” Đằng này bí mật liên quan lại quá lớn...

Liễu Thanh Phi ngẩng đầu lên, giơ ra một ngón tay, sau lại biến thành năm ngón, nói chậm rãi: “Một năm, một vạn năm ngàn lượng.”

Chỉ thấy Hà Thanh Quân mắt sáng lấp lánh, hai tròng mắt sáng đến kinh người, rõ ràng đã biến thành hai trái tim thật lớn chứa đầy bạc! Tia sáng trong mắt cô tỏa ra, giống hệt như của những cô gái lâu ngày chưa gặp người thương, rất cuồng nhiệt, rất thâm tình, rất nồng nàn cũng rất ngọt ngào.

Liễu Thanh Phi bất giác cảm thấy ớn lạnh, may là biết trong lòng cô tuyệt đối không có mình, nếu không, anh thật sự cho rằng hai trái tim đó là dành cho anh. “... Hà Thanh Quân, muội có muốn làm không?”

Hà Thanh Quân gật đầu lia lịa: “Muốn muốn muốn, Liễu đại ca, huynh không biết đâu, Nhạc Sơn bây giờ rất túng quẫn, nợ nần liên miên. Hà Thanh Quân muội đây, trên có sư phụ sáu chục tuổi trốn nợ ở lì trong nhà vệ sinh không chịu ra, dưới có tiểu sư đệ bụng bự đang khóc đòi ăn, ở giữa là bảy, tám cái miệng ăn, muội rất là khổ đó! Một vạn năm trăm lượng còn hơn cả mức chi tiêu một năm của Nhạc Sơn nữa!”

Liễu Thanh Phi cảm thấy hắc tuyến giăng đầy đầu, sư phụ cô Huyền Cơ Tử danh tiếng lẫy lừng, võ công đã vượt qua cảnh giới, tinh thông bát quái trận pháp, tuổi đã già còn chật vật chui rúc trong nhà vệ sinh trốn nợ, thật là...

“Thanh Quân khoa trương rồi, lệnh sư mới năm mươi lăm tuổi, còn chưa đến lục tuần; tiểu sư đệ của muội cũng không phải khóc đòi ăn, huynh nghĩ... cũng sáu tuổi rồi nhỉ!”

Hà Thanh Quân xua tay, cười đáp: “Liễu đại ca không cần nói rõ ràng như vậy, chỉ cần biết Hà Thanh Quân hiện tại đang rất cần ngân lượng! Cái này thuận mua vừa bán, muội bằng lòng!”

Liễu Thanh Phi thấy vậy, ngược lại còn nhíu mày, có lòng tốt nhắc nhở: “Vậy... còn Bạch Dật Dương...”

Hà Thanh Quân vô thức sờ cây sáo ngọc, ngước mắt, mỉm cười: “Bạch Dật Dương là Bạch Dật Dương, Hà Thanh Quân là Hà Thanh Quân, sớm đã không còn liên quan gì với nhau. Chỉ cần đủ bạc, cho dù Bạch Dật Dương muốn muội giữ cửa cho hắn, muội cũng... hà hà, không đi!”

Liễu Thanh Phi bật ngửa ra, anh còn tưởng cô sẽ đi cơ đấy! Anh lập tức trình bày cho cô nghe một cách đơn giản về thói quen cũng như các điều cấm kỵ của Nhiếp Chính Vương.

Đến giờ cơm tối, Hà Thanh Quân và Liễu Thanh Phi vừa vào phòng ăn, đã thấy sư phụ Lưu Quân Trạch ngồi vào chỗ, thái độ lúng túng nhìn rất buồn cười. Hà Thanh Quân coi như không thấy, nhìn về phía sư muội Chung Lâm, chỉ thấy cô bé vừa gắp thức ăn vào chén tiểu sư đệ, vừa tức giận nhìn chằm chằm sư phụ.

Quay đầu thấy Hà Thanh Quân, bất mãn hừ một tiếng, lại quay đầu trừng sư phụ.

Hà Thanh Quân cười ngồi xuống, từ khi Chung Lâm biết cô muốn trở lại kinh thành, luôn tỏ ra khó chịu. Quay đầu nói với Lưu Quân Trạch: “Sư phụ, ăn cơm có mùi nhà vệ sinh, có thấy ghê không?”

Lưu Quân Trạch nghe vậy, tay cầm chén bỗng khựng lại, cười xấu hổ: “Đã hết mùi rồi, không tin, con ngửi thử xem.” Dứt lời liền đặt chén xuống, chạy đến bên cạnh cô, để cô ngửi.

Hà Thanh Quân bịt mũi: “Mùi mao xí nồng quá!”

Lưu Quân Trạch trầm mặt xuống, bày đặt khóc lóc: “Mấy đứa tụi bây không có lương tâm, vi sư cũng khổ lắm, chứ có dễ dàng gì đâu. Từ nhỏ, chính tay ta cho bây đi tiêu đi tiểu, chịu bao nhiêu là cực khổ, vừa làm cha vừa làm mẹ, ta có bao giờ than phiền chưa? Vi sư chẳng qua... chẳng qua, chỉ ở trong nhà vệ sinh một lúc, bây lại trưng ra bộ mặt như vậy, nếu không phải sư nương của bây... bà ấy... bà ấy...” Vừa nói vừa rơi lệ.

Hà Thanh Quân ôm trán, cùng Chung Lâm nhìn nhau ngán ngẩm, tứ sư đệ Tiết Phó Lôi mười hai tuổi, tam sư đệ Vương Côn mười lăm tuổi, kinh ngạc nhìn sư phụ, hồi lâu bật cười thành tiếng.

Tiếng cười vừa rộ lên, Lưu Quân Trạch lại càng khóc dữ hơn, như đứa bé ba tuổi nằm lăn ra đất nằm ăn vạ.

Liễu Thanh Phi nhìn cảnh tượng trước mắt, choáng váng không nói nên lời. Ông lão đang nằm vạ kia chính là Huyền Cơ Tử đỉnh đỉnh đại danh trên giang hồ? Còn mấy người đang cười nhạo kia là đệ tử của ông? Nhạc Sơn luôn cũng vậy... không hề giống với bất cứ nơi nào.

Hà Thanh Quân rốt cuộc chịu không nổi, cất tiếng an ủi: “Sư phụ, đừng khóc nữa, không có ai trách sư phụ đâu. Sư phụ yên tâm đi, sư nương nhất định sẽ trở về, con sẽ dập đầu giải thích rõ mọi chuyện với sư nương. Ngày mai con vào kinh rồi, chẳng lẽ sư phụ không định để cho con thoải mái ăn hết bữa cơm này sao?”

Thật ra nói đến lý do sư nương rời xa sư phụ, quả thật là bi kịch, nguyên nhân là bởi vì cô...

Lưu Quân Trạch lập tức nín khóc, bưng chén ăn cơm.

Trên bàn ăn từ lớn đến nhỏ, từ nam đến nữ, đều đồng loạt hóa đá. Lời nói của đại sư tỷ thật có thể sánh với tiên đan diệu dược sao? Thay đổi nhanh quá đi mất!

Ánh mắt đổ dồn về Lưu Quân Trạch, chỉ thấy ông cười ha hả: “Ăn cơm ăn cơm, ngày mai vi sư có việc rời Nhạc Sơn hai tháng. Trong lúc vi sư không có ở đây, các con phải tự biết chăm sóc tốt bản thân đó.”

Chúng đệ tử thảy cho ông cái nhìn khinh bỉ. Ở Nhạc Sơn, ngoài việc dạy võ công, sư phụ còn làm gì nữa? Bọn họ lúc nào cũng tự lo cho mình hết, được chưa?


on 9 tháng 2, 2013
Hôm qua làm ngày cuối, tối đưa tiền thưởng, mẹ cười hỉ hả, thiệt vui :v

Tiền lì xì trong ngày hăm tám của tui gần hai triệu. OMG @.@

Hôm nay hăm chín, nằm ì ở nhà. Sáng đi chợ với Citi, mua được cái vòng tay. Hị hị :3

Không được đi đường hoa, không được ngắm không khí Tết Sài Gòn. Thôi thì hẹn năm sau nhé ^^

Cuối năm múa bút. Lâu rồi mới động photoshop, chả color gì cả, đơn giản chỉ phối cảnh và đặt text thôi. Truyện đang đọc đến chương chín mươi chín, vẫn chưa chán :v. Anh Nhiếp Chính Vương thật là ngầu ^.^

 photo NCVTHS1_zpsd4a00bfc.jpg



 photo
NCVTHS2_zps6d459e99.jpg



NHIẾP CHÍNH VƯƠNG, THUỘC HẠ SỢ !!!

Cẩm Ảnh | Khuyên



 photo
NCVTHS2_zps6d459e99.jpg





CHƯƠNG 3 + 4: CHỦ NỢ ĐẾN CỬA 


Nhạc Sơn, cây xanh đổ bóng, dưới gốc cây thỉnh thoảng có vài đám hoa rụng, cùng cảnh sắc biếc hồng vang vọng khúc vàng anh của Giang Nam hòa hợp lạ lùng.

Một tiểu cô nương mười sáu tuổi trong màu áo vàng, tay áo xắn lên, lộ ra búp tay như sen, một đường chạy vào nội viện, sau đó vội vàng quay người đóng cửa sân ngoài.

Gõ cửa.

“Đại sư tỷ, mau mở cửa ra.”

Cô gái đang cầm cuốn sách trận pháp trong tay, nhíu mày, đứng dậy mở cửa: “Chung Lâm, đã xảy ra chuyện gì?”

Chung Lâm ngẩng đầu nhìn Hà Thanh Quân trước mặt, hàng lông mày mảnh khảnh không đậm không nhạt, mắt sáng mũi cao, và nụ cười lúc nào cũng nở trên đôi môi anh đào, mặc dù không đẹp đến mức tuỵêt thế mỹ nhân, nhưng cũng là một giai nhân thanh tú. Lắc đầu khó hiểu, vì sao người kia lại không quý trọng?

“Chung Lâm, sao cứ ngây người ra vậy?” Hà Thanh Quân kéo cô vào phòng.

Chung Lâm đột nhiên lấy lại tinh thần, giọng hốt hoảng: “Đại sư tỷ, không tốt rồi, lại có người đến đòi nợ, đang la ó ở trước sân kìa!”

Đôi mày Hà Thanh Quân nhíu chặt lại, bỏ sách xuống, kéo cô bước ra ngoài. “Sư phụ lão nhân gia đâu rồi?”

Chung Lâm tiện tay khép cửa phòng, giậm chân, hậm hực nói: “Sư phụ?! Đừng nhắc đến ông ấy nữa, ông ấy thiếu nợ, nhưng hễ có ai tới đòi là lại lỉnh mất.”

Hà Thanh Quân nhếch môi. “Trốn nữa hả? Lần này là chạy đi đâu?”

Biểu tình trên mặt Chung Lâm đúng kiểu “hận không thể rèn sắt thành thép”: “Còn gì là mặt mũi nữa chứ! Đường đường là Huyền Cơ Tử, lại trốn trong nhà vệ sinh không chịu ra...”

Hà Thanh Quân đứng hình, nụ cười không còn nữa, mi mắt giật giật liên tục... trốn trong nhà vệ sinh, trốn trong nhà vệ sinh...... Sư phụ, người có tiền đồ quá đấy!

Hà Thanh Quân hấp tấp chạy về phía nhà vệ sinh gần sân trước nhất, Chung Lâm vội vã theo sau.

Cô bịt mũi, hét lên: “Sư phụ, người có ở trong mao xí không?”

Im lặng, không một tiếng động.

Cô đổi giọng: “Sư phụ, không có đúng không? Vậy con vào nhé!”

“Đừng mà, đừng mà, đồ nhi ngoan, vi sư ở trong này.” Lập tức từ nhà vệ sinh truyền đến giọng ngăn cản.

“Sư phụ, khách của người đang đợi ở ngoài sân, người lại vào đó làm gì thế?” Hà Thanh Quân giận dữ la to.

“À, ờ... cái này... Thanh Quân à, sư phụ cũng khổ lắm á, sư phụ vì tìm sư nương của con mới mượn tiền của hai người họ...”

Hà Thanh Quân ôm trán, lại nhắc tới sư nương, sư phụ là cố tình gợi lên mặc cảm tội lỗi trong cô mà. Cô sợ ông thật đó!

“Sư phụ, thiếu nợ trả tiền là chuyện đương nhiên, người trốn vào nhà vệ sinh là sao hả?”

“Thanh Quân à, tình hình Nhạc Sơn hiện tại con không phải là không biết, vi sư lấy đâu ra tiền trả cho bọn họ chứ? Con mau giúp vi sư đuổi bọn họ đi đi, coi như là báo đáp ơn dưỡng dục của vi sư.”

Hà Thanh Quân mặt mày đen thui, mỗi lần có việc cầu cạnh cô đều nói ‘sau việc này là báo hết ơn dưỡng dục’. Mấy lời này, cô nghe mòn mỏi từ nhỏ đến lớn, sao không chịu đổi câu mới vậy, hai tai cô riết rồi mọc kén luôn...

“Sư phụ----” Cô giậm chân, “Sư phụ bảo con làm sao đuổi bọn họ đi đây, hay là để con với sư muội bán thân gán nợ nhé?”

“Được đó được đó...” Giọng hoan hô rất hồ hởi.

Hà Thanh Quân cảm thấy chân nhũn ra, xém nữa ngã xuống. “Sư phụ----“

Chung Lâm hai tay chống nạnh, hét lên: “Sư phụ, người đúng là không có lương tâm!”

“Hì hì, vi sư đương nhiên là không đành đâu... Đồ nhi tốt, đồ nhi ngoan, mau cứu vi sư đi mà, tìm đại lý do nào đó cho bọn họ rời khỏi, cứ bảo ta chết rồi, thúi rồi... sao cũng được hết.”

Hai sư tỷ muội đưa mắt nhìn nhau, chỉ đành ôm trán cười khổ. Sau đó, một đường chạy về sân trước, quả nhiên nhìn thấy hai lão đầu bốn, năm chục tuổi. Một vị ngồi trên băng ghế đá, bù lu bù loa: “Huyền Cơ Tử gì chứ, thiếu nợ không trả! Người mấy chục tuổi rồi, ở trên giang hồ cũng có danh tiếng, vậy mà một ngàn lượng bạc cũng không chịu moi ra, đúng là đồ không biết xấu hổ!”

Người còn lại đang lăng xăng đi tới đi lui, nghe thấy người kia mắng, bỗng nhiên quay đầu: “Lý Trung Dương, ngươi chỉ có một ngàn lượng, hắn thiếu lão tử ta hai ngàn lượng đây này. Mười năm, một đồng cũng không trả. Lão tử hồi trước có tiền thì không sao, nhưng bây giờ lão tử đang rất cần tiền. Nhi tử của ta còn đang chờ ta đưa tiền đặt sính lễ này!”

Lý Trung Dương đứng bật dậy: “Muốn so xem ai thảm hơn à? Nhớ năm đó, Lý Trung Dương ta uy chấn một phương, không ngờ mấy bà vợ chẳng ra gì của lão tử lại sinh ra một đám con hư hỏng, gia sản của lão tử bị chúng bán sạch không còn thứ gì. Nhớ tới có cho Huyền Cơ Tử mượn nợ, lòng đầy vui sướng chạy đến đòi nợ, ai ngờ... ai ngờ...” Vừa dứt lời đã ngồi bệt xuống ghế đá, gào khóc đầy thương tâm.

Ba ngàn lượng?! Hà Thanh Quân và Chung Lâm nhìn nhau không nói, đổ mồ hôi hột: Sư phụ có còn cần không nhỉ? Hay là bán quách sư phụ trả nợ đi!



`


Người đang đứng vừa liếc mắt đã phát hiện ra hai sư tỷ muội các cô, ông đột nhiên nhào tới, nắm chặt cổ tay Hà Thanh Quân: “Huyền Cơ Tử đâu, gọi Huyền Cơ Tử đến đây, lão già ấy trốn đi đâu rồi hả?”

Hà Thanh Quân nhẹ nhàng dùng thủ pháp thoát khỏi tay ông ta, cười nói: “Xin hai vị tiền bối đừng nóng giận, gia sư có việc khẩn cấp vừa mới xuất môn. Hai vị tiền bối cũng không cần gấp, ngân lượng gia sư thiếu, Nhạc Sơn nhất định sẽ hoàn trả đầy đủ, chỉ có điều Nhạc Sơn mấy năm gần đây thu vào ít mà chi ra nhiều, ngay tức thì cũng không có nổi ba ngàn lượng. Hai vị...”

Lý Trung Dương cao giọng: “Đường đường Nhạc Sơn, không có nổi ba ngàn lượng, ai tin được?”

Chung Lâm hai tay chống nạnh, giận dữ nói: “Người thiếu là sư phụ, các người rống với tụi ta làm gì? Nếu như có đủ tiền, đại sư tỷ còn đứng ở đó cầu cạnh các người làm gì?”

Người trước đó cũng hét lên: “Tiểu nha đầu, một ngày là thầy cả đời là cha, cha thiếu nợ con trả tiền, sư phụ thiếu nợ đệ tử trả tiền là chuyện đương nhiên!”

Hà Thanh Quân: “...”

Chung Lâm: “...”

Hồi lâu, Hà Thanh Quân mới cất tiếng: “Hai vị tiền bối nói phải. Nợ của sư phụ, chúng tôi nhất định sẽ trả. Làm phiền hai vị tiền bối chờ một chút, chúng tôi đi gom tiền.”

Chung Lâm luống cuống: “Đại sư tỷ, mình làm gì còn tiền nữa?”

Hà Thanh Quân kéo cô đi ra sân sau, bước vào phòng của mình, từ trong ngăn tủ lấy ra một chiếc hộp dài khắc hoa văn, mở nắp, nhìn chằm chằm chiếc trâm ngọc, sau đó cắn răng đưa cho Chung Lâm.

Chung Lâm ngạc nhiên nhận lấy: “Đại sư tỷ?”

Trâm này, không phải là di vật mẹ đại sư tỷ lưu lại cho đại sư tỷ sao? Có lúc sẽ thấy tỷ ấy cầm nó ngồi đờ đẫn, nhưng chưa bao giờ tỷ ấy đeo trên người, có thể thấy đây là vật vô cùng trân quý của đại sư tỷ.

Hà Thanh Quân khẽ cười, cảm thán: “Cây trâm này là của hồi môn của mẹ tỷ. Tỷ từng nhờ người coi qua, quả châu này tuy không phải cực phẩm, nhưng cũng là thượng phẩm, kể cả ngọc trâm, có lẽ cũng hai ngàn lượng. Còn lại thì chúng ta tự gom góp vậy. Ở chỗ tỷ có một trăm lượng, trong phòng kế toán chắc còn năm, sáu trăm lượng gì đó. Thiếu khoảng ba, bốn trăm lượng nữa...” Vừa nói vừa lấy một gói bạc nhỏ từ trong ngăn ra.

Nghĩ đến việc đi nơi nào gom thêm ba, bốn trăm lượng thiếu kia, không kìm được cứ thở dài thườn thượt. Trên giang hồ có môn phái nào chật vật như Nhạc Sơn không? Nhớ năm đó, Nhạc Sơn có hơn năm trăm mẫu ruộng màu mỡ, năm, sáu cửa hàng, và hơn chục căn hộ. Thế mà giờ đây bị sư phụ lão đồng tử làm tiêu tan hết, chỉ còn lại năm chục mẫu ruộng bạc màu và hai cửa hàng.

Một năm chỉ thu vào vạn lượng bạc, mà phần tiền này, cũng có giữ được đâu, toàn bộ đều bị sư phụ lấy đi xài hết. Sư phụ trong giang hồ có tiếng là hào hiệp trượng nghĩa, nhưng không biết ông có từng nghĩ đến hậu quả chưa?

Đột nhiên từ không trung vang tới tiếng khóc, Hà Thanh Quân bất lực ngó ra ngoài, quả nhiên là tiểu sư đệ sáu tuổi vừa khóc vừa bước vào sân. Tiểu sư đệ thông minh sáng tạo, có thiên phú, chí có duy nhất một khuyết điểm chính là dạ dày quá lớn, hễ đói bụng là gào khóc không ngừng....

Chung Lâm thở dài: “Lại thêm một kẻ thù nữa. Ôi Nhạc Sơn này...”

Hà Thanh Quân ôm tiểu sư đệ bước vào, đặt ngồi trên ghế, đút trái cây vào miệng thằng bé: “Không được oán trách nữa! Không có sư phụ, chúng ta đã sớm đói chết bên đường rồi. Sư phụ mình cũng là có nỗi khổ, chờ sư nương trở lại, chúng ta sẽ có ngày tươi sáng thôi.”

Chung Lâm giậm một bên chân. “Muội không phải là oán trách, chỉ có điều bị người ta đòi nợ như thế này thì, giời ạ...”

Bỗng nhiên thủ vệ cửa lớn Nhạc Sơn chạy vào thông báo: “Hai vị cô nương, ngoài kia có một người xưng là nghĩa huynh của đại cô nương muốn cầu kiến.”

Chung Lâm nhìn Hà Thanh Quân, tay nhỏ nắm chặt lưng ghế, đốt ngón tay trắng bệch, hừ một tiếng: “Từ kinh tới? Không tiếp.”

Hà Thanh Quân vừa nghe nghĩa huynh cầu kiến, đầu tiên là ngây người, sau đó hai mắt vụt sáng, “Tiếp, sao lại không tiếp chứ! Mặc kệ huynh ấy muốn làm gì, bốn trăm lượng bạc kia rốt cuộc cũng thấy rồi.”

Chung Lâm tức giận đập bàn. “Đại sư tỷ, tỷ nói như vậy, có phải là tỷ vẫn chưa quên được kinh thành, chưa quên được cái gã kia không?”

Hà Thanh Quân cầm lấy sáo ngọc trên bàn, khẽ thở dài, lần đòi nợ kế tiếp có lẽ sẽ là thanh sáo này.

Thật ra, cô rõ ràng là luyện kiếm pháp, thế mà sư phụ lại thảy cho cô thanh sáo, bảo đây là vật tiền triều, rất đáng giá, còn nói một cách dõng dạc đường hoàng, gì mà dùng sáo có thể giảm sát sinh, kiếp sau sẽ được hưởng phú quý, còn kiên quyết bắt cô học thổi sáo, coi như là đại diện cho mọi người.

Nhưng cô bẩm sinh không có khiếu với âm luật, học tới học lui, chỉ được nửa phần.

Cô không quan tâm đến chuyện giàu hay không giàu. Giàu thì sao chứ, cũng phải ăn lúa gạo lương thực, cũng có việc phiền lòng. Nhưng cô biết thanh sáo này có liên quan với sư nương, nên cô chỉ có thể bỏ kiếm dùng sáo, liều mạng học hai bài nhạc sư phụ thích. Mặc dù thổi không hay lắm, nhưng lần nào sư phụ nghe cô thổi cũng đều lộ vẻ say mê, không cần nói cũng biết, đây là bài hát sư nương thích nhất.

“Chung Lâm, muội trông chừng tiểu sư đệ, ta đi gặp huynh ấy.”

Chung Lâm cắn răng: “Muội đi với tỷ.”

 Hà Thanh Quân biết cô không yên tâm về mình, cũng không phản bác, cười khẽ: “Được rồi!”


on 7 tháng 2, 2013
NHIẾP CHÍNH VƯƠNG, THUỘC HẠ SỢ !!!

Cẩm Ảnh | Khuyên


 photo W020111118461144599924_zps74e39147.jpg



CHƯƠNG 2: NHIẾP CHÍNH VƯƠNG • KỲ NHÂN


Nam Uyển An Khang năm thứ mười ba, An Khang Đế băng hà.

Hoằng Nguyên Đế mười tuổi đăng cơ, Bác Thân Vương hai mươi sáu tuổi phụng chỉ nhiếp chính.

Thiên Tấn Vương nhận được tin, vui mừng ra mặt, liền cùng chúng thần thương nghị, hai ngày sau, đột nhiên phái mười vạn đại quân đến biên giới hai nước bên dưới Ngô Sơn. Muốn nhân lúc triều chính Nam Uyển rối loạn, đoạt lấy nơi này.

Theo mật báo, trong lòng Ngô Sơn là cả quặng khoáng sản dồi dào ba phần bạc hai phần sắt. Bởi vì nơi đây là biên giới hai nước, không thuộc về nước nào cả, cho nên trong chục năm qua, hai nước không ngừng khuấy động can qua vì mảnh đất này.

Nhiếp Chính Vương Lệnh Hồ Bác biết tin, khẩn cấp điều binh khiển tướng, từ biên cảnh phụ cận điều động chín vạn tinh binh đến Ngô Sơn. Khói lửa bùng nổ trong hơn một tháng, lão tướng quân bị phục kích trọng thương, tổn thất hơn vạn binh sĩ.

Lệnh Hồ Bác giục ngựa thẳng tiến núi Ngô, bất ngờ đề bạt người đã cõng lão tướng quân chiến đấu đột phá vòng vây, tiên phong Liễu Thanh Phi, đảm nhận chức Đại tướng quân. Chúng tướng dưới trướng phản đối kịch liệt.

Lệnh Hồ Bác nghiêm trang ngồi ở chủ vị, đôi mắt hẹp dài lạnh lùng đảo khắp tướng sĩ, giọng nhàn nhạt: “Liễu Đô úy kiêu dũng thiện chiến, vừa can đảm vừa mưu trí, trong quân mọi người đều rõ. Bây giờ đại địch trước mặt, các vị không đồng lòng ngăn địch, lại đi tính toán hơn thua nhau, là có ý gì?”

Chúng tướng im re không nói tiếng nào.

Ánh mắt sắc bén của Lệnh Hồ Bác quét qua từng võ tướng. Bọn họ đột nhiên cảm thấy da đầu căng ra, vội vã cúi gằm mặt xuống.

“Bổn vương dùng người, không luận xuất thân, chỉ cần năng lực. Liễu đại tướng quân là do tự bổn vương đề cử, mọi hậu quả đều do bổn vương gánh chịu. Nhưng, nếu ở trên chiến trường, dám chậm trễ không nghe lệnh tướng quân, lập tức chém đầu không tha, còn như gây hậu quả nghiêm trọng, họa liên cửu tộc (1)!”

Tướng lĩnh toàn trường tức thì đưa mắt nhìn nhau.

Lại nghe giọng Lệnh Hồ Bác cất lên: “Tương tự, nếu trong quân có người mượn lệnh này giá họa hãm hại đồng bào, chịu tội như nhau.”

Trong trướng cực kỳ yên tĩnh, hồi lâu, chúng thần mới kịp phản ứng lại, đồng thanh quỳ xuống: “Cẩn tuân mệnh lệnh của Nhiếp Chính Vương! Khấu kiến Đại tướng quân!”

Sau khi Liễu Thanh Phi lĩnh ấn đại tướng quân, điều chỉnh chiến thuật, cuối cùng sau hai tháng, chỉ huy tám vạn tinh binh đẩy lùi mười vạn đại quân Thiên Tấn về biên thổ, hai quân ở Ngô Sơn tạo thành thế giằng co.

Lệnh Hồ Bác hồi kinh, lại phát hiện thái hậu Nam Cung Lan quả đúng như tiên hoàng từng lo lắng, dã tâm ngày càng bành trướng.

Trải qua một đêm suy tính, ngày hôm sau, Lệnh Hồ Bác ra quyết định.

Hoằng Nguyên Đế chưa tròn mười tuổi đã lên ngôi, từ cổ chí kim, chưa từng có tiền lệ như vậy, mà trong cung toàn là phi tần và các cung nhân chưa từng được tiên đế sủng hạnh, dễ khiến cho ấu chúa nhiễm mùi phấn son, làm mất đi tính quả cảm dương cương của nam tử, sa đà hơn, có khả năng trầm mê nữ sắc.

Để đảm bảo Hoằng Nguyên Đế trở thành nhất đại minh quân, Lệnh Hồ Bác quyết định kể từ bây giờ chuyển vào hoàng cung để gần gũi dạy bảo cho hoàng đế.

Ngoài ra, bởi vì là nam tử độc thân chưa cưới vợ, cùng chúng nữ nhân của tiên đế ở chung có phần không ổn, cũng không có lợi cho sự trưởng thành của ấu đế Hoằng Nguyên, y quyết định mời các nữ nhân của tiên đế ra khỏi cung, đồng thời ban bố lệnh mới:

Người chưa được tiên đế sủng hạnh, nếu tự nguyện xuất cung lấy chồng, hoàng gia sẽ nhiệt tình tặng sính lễ; còn như không muốn về nhà, phải chuyển đến tự viện hoàng gia, xuống tóc tu hành.

Người được tiên đế sủng hạnh, nhưng không có con cái, bất luận là tự nguyện xuất cung hay không tự nguyện xuất cung, cũng tiến vào tự viện hoàng gia, được triều đình cung dưỡng.

Phu nhân hay phi tần nào có con thì đều chờ con xuất cung lập phủ, các thái giám cung nữ thân quen cũng nhập phủ theo hầu.

Nữ quan trong cung và cung nữ muốn kết hôn đều có thể xuất cung lấy chồng.

Bởi vì đa số những nữ nhân trong cung đến từ các tộc bá quan văn võ trong triều, cho nên, tuy lệ này từ thời khai thiên lập địa đến giờ chưa từng có, nhưng vẫn nhận được sự ủng hộ của bá quan, hân hoan đón người xưa hồi gia xuất giá.

Vì vậy, tất cả nữ nhân của tiên đế đều rời khỏi cung, nữ quan cùng cung nữ cũng giảm hơn phân nửa.

Về phần thái hậu Nam Thục Lan, Lệnh Hồ Bác đề xuất, một là tị hiềm chị dâu em chồng, hai là để chặt đứt tính ỷ lại của ấu đế, nên đưa bà về ở đất của anh trai, ăn uống tiện nghi giống y trong cung, do triều đình chu cấp. Nghĩ đến Hoằng Nguyên Đế tuổi còn nhỏ, cần có tình thương của mẹ, cứ hai tháng một lần Thái hậu sẽ hồi cung mười ngày, vừa giải tỏa nỗi nhớ nhung của con, vừa vun đắp tình cảm mẫu tử.

Chúng thần trong triều có không ít người hưởng lợi từ lệnh mới, hơn nữa Nhiếp Chính Vương an bài thái hậu hợp tình hợp lý lại có tình có nghĩa, chúng thần không tìm ra lý do nào phản đối.

Trong lòng thái hậu tất nhiên là vô cùng bất mãn, đại ca Nam Hạo Chí ở trong triều bắt liên hệ với không ít triều thần, nhưng mà những triều thần này đều có nữ nhân hưởng lợi từ điều lệnh, cho nên đối với chuyện này, các quan viên có quan hệ tốt với Nam gia đều chọn cách im lặng.

Phản kháng mấy tháng không có hiệu quả, thái hậu đành phải xuất cung, về ở nhà anh trai.

Chỉ trong vòng hai năm tiếp theo, Lệnh Hồ Bác dù đi đến đâu cũng đều đụng mặt sát thủ.

Đại tướng quân Liễu Thanh Phi nhiệt tình tiến cử nghĩa muội bảo vệ an nguy cho Nhiếp Chính Vương.

Đôi mắt hẹp dài của Lệnh Hồ Bác đảo qua y, ngón tay gõ nhẹ bàn ngọc. “Là nữ?”

Liễu Thanh Phi gật đầu.

Giọng Lệnh Hồ Bác thờ ơ: “Trong chốn giang hồ, nữ nhân biết võ rất nhiều, nhưng bản lãnh thì không phải ai cũng có. Phụ nữ, khó đảm đương trọng trách.”

Liễu Thanh Phi trầm mặc trong chốc lát, chắp tay: “Nhiếp Chính Vương, muội ấy là đại đệ tử đắc ý của Huyền Cơ Lão Nhân, võ công siêu quần, không có gì đặc biệt, quan trọng nhất là rất am hiểu trận pháp.”

Lệnh Hồ Bác nâng lên mắt phượng: “Đệ tử của Huyền Cơ Lão Nhân, giỏi trận pháp? Cũng hiếm có.”

Liễu Thanh Phi do dự một hồi, bước lên một bước, nói khẽ: “Nhiếp Chính Vương, thần... thần...”

“Liễu đại tướng quân có gì cứ nói.”

“Nhiếp Chính Vương, thần... từng là hàng xóm của nghĩa muội trong hơn mười năm, biết được muội ấy có có biệt tài gia truyền, đó là tìm mỏ...”

Lệnh Hồ Bác đứng bật dậy: “Ngươi bảo cô ấy biết tìm mỏ?”

Liễu Thanh Phi vội vàng khuỵu gối quỳ xuống, đáp: “Xin Nhiếp Chính Vương thứ tội, thần biết rõ Nhiếp Chính Vương luôn muốn tìm kiếm một người có khả năng như vậy, nhưng lại giấu diếm không bẩm. Thật ra, vị nghĩa muội này của thần trước đó đã là vợ người ta, có nhiều bất tiện, hơn nữa bởi vì gia đình nghĩa muội gặp biến cố, cho nên không bao giờ muốn nhắc đến tài này.”

Lệnh Hồ Bác chậm rãi ngồi xuống, liếc hắn: “Trước đó đã là vợ người ta... còn bây giờ?”

Liễu Thanh Phi ngập ngừng lên tiếng: “Một năm trước, muội ấy chia tay phu quân, trở về Nhạc Sơn.”

Lệnh Hồ Bác mắt trợn tròn, ngạc nhiên: “Ngươi nói chính là cô gái đã cùng Bạch đô úy Bạch Dật Dương ly hôn?”

Liễu Thanh Phi quỳ chắp tay: “Nhiếp Chính Vương anh minh, nghĩa muội của thần chính là người đã ly hôn với Bạch đô úy, Hà Thanh Quân.”

Lệnh Hồ Bác khẽ nhếch môi, mắt phượng nhìn chằm chằm Liễu Thanh Phi, hồi lâu mới cất tiếng: “Liễu đại tướng quân, ngươi đột nhiên tiến cử nàng, không phải toàn bộ đều xuất phát từ lòng trung, muốn cùng bổn vương chia sẻ gánh nặng chứ?”

Liễu Thanh Phi âm thầm lau mồ hôi, vội xá một cái: “Mong Nhiếp Chính Vương xem xét, thần không dám giấu diếm điều gì. Sau khi nghĩa muội rời kinh, thần luôn để tâm dò hỏi tin tức, biết được khi muội ấy trở về Nhạc Sơn, mắc nợ ngập đầu... Thần chỉ muốn giúp nghĩa muội một tay.”

Lệnh Hồ Bác nói giọng nghi ngờ: “Huyền Cơ Lão Nhân không phải là rất nổi danh à? Đệ tử của ông sao lại mắc nợ ngập đầu được?”

Liễu Thanh Phi trả lời: “Nghe nói đống nợ này là Huyền Cơ Lão Nhân thiếu.”

“... Cô gái này thật hiếu thảo.” Lệnh Hồ Bác cầm lấy một bản tấu chương để trên bàn, mở ra. “Ngày mai, ngươi đi Nhạc Sơn một chuyến.”

“Dạ!”





1. Họa liên cửu tộc: Họ hàng, lớp lang chín tộc đều mang tội.


on 6 tháng 2, 2013



Cứ mãi mơ về quá khứ thì chả được gì :) Thôi đi.

Mình nghĩ là mình đã nói rất rõ rồi.